![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
THE DA VINCI CODE - SỰ KIỆN HAY TIỂU THUYẾT |
|
|
|
Năm
2003 tiểu thuyết The Da Vinci Code (Mật Mã Da
Vinci) của Dan Brown do nhà xuất bản Doubleday
Fiction ấn hành đã nhanh chóng được nhật báo The
New York Times xếp vào hạng những sách bán chạy
nhất. Tính đến
tháng 8/2005 cuốn tiểu thuyết trinh thám này đã được
dịch ra hơn 40 thứ tiếng (trong đó có tiếng Việt) và
tổng số phát hành ở hơn 150 nước lên đến 36
triệu bản, đó là chưa kể hàng trăm nghìn ấn bản có
hình. Cuối
tháng ba sắp tới, 5 triệu bản bìa mỏng sẽ được
nhà xuất bản Anchor Books cho phát hành.
Ngoài sách, cuốn tiểu thuyết trinh thám này cũng
đã được hãng hãng Columbia dựng thành phim và sẽ trình
chiếu lần đầu vào ngày 19 tháng 5, 2006.
Về
phương diện thương mại The Da Vinci Code là một
thành công lớn, nhưng đây cũng là cuốn tiểu thuyết
gây nhiều tranh luận và bị phê phán mạnh mẽ từ
các giới Cơ đốc giáo, nhất là từ Công
Giáo. Những phê
phán này không chỉ liên quan đến nội dung cuốn
truyện, nhưng còn vì những khẳng định
của tác giả khiến độc giả lầm tưởng rằng
đây là thành quả của một công trình khảo cứu
lịch sử nghiêm túc, đã phát hiện được những sự
thật đã bị che dấu. Tựa đề cuốn truyện dựa trên
“sự kiện” cho rằng Leonardo Da Vinci, họa sĩ nổi
tiếng người Ý thời Phục Hưng tác giả của nhiều
kiệt tác như Mona Lisa, The Last Supper… là thành viên
của dòng tu Si-ôn (The Priory of Sion), là nhà dòng được
giao trọng trách bảo vệ bí mật về Chúa Giê-xu, và
ông ta đã mã hoá những bí mật đó trong các tác
phẩm của mình. Dan
Brown xây dựng tiểu thuyết The Da Vinci Code
trên luận đề cho rằng trong 1700 năm qua từ
thời Constantine, giáo hội Công Giáo đã liên can đến
một âm mưu bưng bít câu chuyện thật về Chúa Giê-xu
để có thể bảo toàn quyền lực của mình.
Quyển
truyện mở đầu bằng cái chết của nhân vật Jacques
Saunière, quản thủ bảo tàng viện Louvre ỏ
Paris, người đứng đầu Nhà Dòng Si-ôn,
là người duy nhất nắm giữ bí mật của giáo
hội. Câu chuyện
được khai triển qua nhiều tình tiết được đan dệt,
dàn dựng công phu, hấp dẫn, đến nỗi nhiều độc
giả bảo rằng khi đã cầm lên thì rất khó bỏ
xuống. Có người
đọc suốt ngày đêm cho đến khi ngốn xong gần 400
trang sách! Tuy
nhiên, chỗ nguy hiểm của cuốn tiểu thuyết này là
dụng ý xáo nhòa biên giới giữa sự kiện và hư cấu,
giữa lịch sử và tiểu thuyết để làm cho độc giả
tin rằng những lời diễn giải, khẳng định của các
nhân vật trong truyện là sự thật. Chính Dan Brown
trong phần mở đầu đã đưa ra một khẳng
định liều lĩnh “Tất cả những mô tả về các tác
phẩm nghệ thuật, kiến trúc, tài liệu và các nghi
thức mật nhiệm trong cuốn tiểu thuyết này đều chính
xác.” Tác
giả đã khôn khéo dựng lên những nhân vật có dáng
vẻ đầy uy tín như
“giáo sư Tôn
Giáo Hình Bóng Học Robert Langdon của Đại Học Havard”
và nhất là “ Sir Leigh Teabing,” một sử gia, một
học giả Kinh Thánh, và đặt vào miệng những nhân
vật này những câu tuyên bố nguy hiểm có khả năng
gieo nghi ngờ, thậm chí làm sụp đổ niềm tin của
những Cơ-đốc nhân không được trang bị đầy đủ
Lời Chúa. Thí dụ như
Dan Brown cho nhân vật Sir Leigh Teabing nói,
“hầu hết mọi điều cha ông dạy chúng ta về Chúa
Cứu Thế đều sai lầm” (The Da Vinci Code trang
235) Một
độc giả viết
điện thư cho cơ quan phát thanh Tin Lành RBC
Ministries tâm sự rằng, “Tôi
không biết phải tìm đến với ai, tôi cầu nguyện xin
Chúa giúp tôi!
Tôi
mới đọc cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown.
Cuốn sách rất hấp dẫn cho đến khi tôi đọc
đến chỗ tác giả nói về giai đoạn khởi nguyên
của Cơ-đốc giáo bảo rằng tất cả đều sai lạc và
kết luận rằng về căn bản, Cơ-đốc giáo tựu trung
chỉ là một lời dối trá và là một sự vay mượn các
tà giáo. Chuyện
những hội kín, bí mật về chén tiệc thánh (the Holy
Grail), việc giáo
hội thay đổi các sự kiện, bỏ bớt Kinh Thánh.
Tất cả những khẳng định đó của tác giả có
đúng không? Nhiều
điều tác giả trình bày xem ra rất có lý.
Có những điều trước đây tôi từng nghe đồn
nhưng bỏ qua, bây giờ tôi cần phải biết rõ. Hơn 25
năm qua tôi tin Chúa có phải là tôi sống trên một
lời dối trá không? Chúa
Giê-xu có phải là Đức Chúa Trời không hay chỉ là người?
Chúa Giê-xu có kết hôn với Ma-ri Ma-đơ-len không?
Tất cả những gì tôi được dạy phải tin có
phải chỉ là vì tiền bạc không?
Tôi cần được biết rõ. Bây
giờ tôi không biết phải đến với ai.
Tôi đang sống trong hoài nghi, không biết có thiên
đàng, có Đức Chúa Trời, có Chúa Giê-xu không.
Xin làm ơn giúp tôi, vì danh Chúa xin giúp tôi!
Tôi đang bối rối, đang tan nát cõi lòng và tôi
vẫn còn đang khóc.” Có
thể nói bức thư trên đây trong một giới hạn nào đó,
là một tiêu biểu cho phản ứng của một số độc
giả cuốn The Da Vinci Code.
Điều mọi người có thể đồng ý với tác
giả bức thư trên là chúng ta cần biết rõ hư thực,
tuy nhiên nếu bình tĩnh suy xét và không để cho xúc
cảm lôi cuốn, chúng ta sẽ thấy vấn đề rõ hơn và
nhiều câu hỏi đặt ra tự chúng sẽ tan tác như rơm rác! Chúng
ta có thể nêu lên một số điểm trong cuốn tiểu
thuyết trinh thám này để thấy “công trình” sưu
khảo của Dan Brown không nghiêm túc như ông ta đã xác
quyết. Trước
hết là một khẳng định rất nghiêm trọng của Leigh
Teabing về các cổ bản Kinh Thánh khám phá được ở vùng
Biển Chết và ở Nag Hammadi, Ai-cập.
Có một chỗ nhân vật sử gia này nói rằng, “Đây
là những bản chụp của cuộn Biển Chết và cuộn Nag
Hammadi tôi đề cập trước đây,” Teabing nói. “Đó
là những tài liệu Cơ-đốc sớm nhất, nhưng cái rắc
rối là những tài liệu này lại không ăn khớp với các
sách Phúc-âm trong Kinh Thánh.” (The Da Vinci Code,
trang 245) Nhận
định như thế chưa đủ, Teabing lại quảng diễn thêm,
bảo rằng hai bộ tài liệu cổ trên đã “phơi bày
những khác biệt và ngụy tạo lịch sử, khẳng định
rõ ràng rằng cuốn Kinh Thánh hiện đại đã được đúc
kết và biên soạn bởi những người có một mưu định
chính trị - đó là thổi phồng thần tính của con người
Giê-xu Ki-tô và dùng ảnh hưởng của Ngài củng cố căn
bản quyền lực của chính họ” (trang 234-235). Nói
cách khác, nhân vật sử gia Teabing này bảo rằng các tài
liệu cổ tìm thấy cách đây 50 năm đã phơi bầy
quyển Kinh Thánh của Cơ-đốc giáo ngày nay là ngụy
tạo và đã bị thay đổi.
Đây là một khẳng
định hồ đồ, thiếu nền tảng của tác giả The
Da Vinci Code. Chúng
ta cần xem các cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls) và các
tài liệu cổ ở Nag Hammadi đã minh chứng hoặc phản bác
những điều Tân Ước viết về Chúa Giê-xu như thế nào.
Trước
hết nói về các cuộn Biển Chết được tìm thấy năm
1947 gồm 225 thủ bản (manuscripts – bản chép tay) Cựu
Ước, trong đó 215 cổ bản được tìm thấy trong 11
hang ở Khirbet Quamran gần Biển Chết thuộc Do Thái; 10
cuộn khác tìm thấy ở một địa điểm gần đó là
Wadi Murabba ‘al, Nahal Hever và Masada.
Các cuộn Biển Chết bao gồm tất cả các sách
trong Cựu Ước, chỉ thiếu Ê-xơ-tê.
Những cổ bản này có những niên đại khác nhau,
trễ nhất là 68 SC và cổ nhất là vào khoảng 250 B.C.
và đó là những thủ bản Kinh Thánh cổ nhất.
Như vậy Chúa Giê-xu có được đề cập đến
trong các cuộn Biển Chết không?
Hiển nhiên là không.
Cộng đồng tôn giáo ở Qumran thời Chúa Giê-xu
không phải là Cơ-đốc nhân nhưng là một nhóm biệt
lập của Do Thái Giáo, sống biệt cư trong sa mạc mà
một số học giả cho là một phần hay ít ra có liên
hệ với nhóm Essenes. Hầu
hết các học giả Kinh Thánh đều đồng ý rằng nhóm
người này không biết và cũng không đề cập gì đến
Chúa Giê-xu. Như
vậy, kết luận rõ ràng nhất là các cuộn Biển Chết
không phải là “những tài liệu Cơ-đốc” như Dan
Brown khẳng định, cho nên vì thế cũng không có chỗ nào
để xác định hay phủ định về Chúa Giê-xu hay về
Hội Thánh ban đầu. Đúng
ra điều Dan Brown cần phải khẳng định đó là những
cuộn Biển Chết là bằng chứng mạnh mẽ cho tính
chất chính xác và đáng tin của phần Cựu ước trong
quyển Kinh Thánh hiện đại. Khác
hẳn với các cuộn Biển Chết là các sách trong Cựu
ước (trừ Ê-xơ-tê), những bản văn cổ được tìm
thấy ở Nag Hammadi bên Ai-cập vào năm 1945 do một nông
dân Ai-cập bán cho một nhà buôn ở cổ thành Cairo
lại hoàn toàn không có một sách nào trong Tân ước!
Những cổ bản này ghi lại những câu nói và
phần ký thuật về Chúa Giê-xu do phái tà giáo Duy Tri
(Gnosticism) manh nha từ thế kỷ đầu và phát triển
sang thế kỷ thứ hai và thứ ba viết ra.
Tà thuyết Duy Tri tìm cách giải thích lại ý nghĩa
sứ mạng của Chúa Cứu Thế theo quan điểm triết
học ngoại giáo, là điều chính thánh Phao-lô đã
cảnh cáo (Ga-la-ti 1: 6-7; Cô-lô-se 2:8). Duy
Tri là một tà giáo nguy hiểm đã xuất hiện rất sớm,
và ngày nay qua cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code
của Dan Brown, lại có mòi tái xuất hiện.
Hiển nhiên với số sách in rất lớn phát hành
khắp thế giới, đến tháng 5/2006 lại là bộ phim
dựa trên cuốn tiểu thuyết này bắt đầu trình
chiếu chắc chắn sẽ tiếp tục gây tác hại cho đức
tin của nhiều Cơ-đốc nhân thiếu cảnh giác.
Vì vậy chúng ta cần trang bị để không rơi vào
lưới bẫy của tà thuyết này. Có
thể nói trong số những kẻ thù vô hình của Hội Thánh,
tà giáo là một trong những kẻ thù nguy hiểm hơn hết.
Nó nguy hiểm không phải vì tính chất đối kháng
với chân lý như giữa trắng với đen, nhưng vì nó có
những hình thức rất giống với chân lý mà trong bản
chất lại khác. Cái
hư hỏng của tà giáo không nhất thiết là hư hỏng
về phương diện đạo đức.
Trái lại có một số tà giáo rất thành công
trong việc duy trì được những tiêu chuẩn đạo đức
cá nhân và gia đình rất cao trong một xã hội băng
hoại. Tà giáo rất gần với con người, nó nâng tâm
hồn và tâm trí con người lên, nhưng là tâm hồn và tâm
trí của bản ngã con người thiên nhiên sa đọa!
Những người rơi vào vòng tay của tà giáo thường
cảm thấy bản ngã được vuốt ve khi nhờ những
những luận chứng của nó mà mình được nâng lên. Trong
lịch sử Cơ-đốc Giáo, tà giáo đã xuất hiện rất
sớm, đi song song, tiếp xúc rồi âm thầm xâm nhập vào
các cộng đồng Cơ-đốc bằng một góc rất nhỏ. Nó
thấm nhập vào chân lý, hòa tan trong chân lý và làm
biến chất chân lý. Vàng giả không nhất thiết là
một miếng đồng, nhưng có thể là thỏi vàng với
một lượng bạc nào đó, đã tan chảy, trộn lẫn
trong thỏi vàng đến độ phải dùng kỹ thuật phân
kim nhiều công phu mới có thể lấy ra hết chất bạc
pha. Tà giáo xuất phát từ trong Hội Thánh, do “giáo sư
giả” khởi xướng bằng cách kết hợp lý thuyết
của con người với giáo lý cứu rỗi thuần túy.
Đây là trường hợp của thuyết Duy Tri (Gnosticims)
phôi thai từ thế kỷ thứ nhất, phát triển thành
một chủ thuyết thịnh hành trong thế kỷ thứ hai và
thứ ba. Thuyết này nhấn mạnh đến a) tính ưu thắng
của tri thức, nhất là những tri thức thần bí liên
quan đến Thượng Đế,
b) phương cách đến gần Ngài và c) kinh nghiệm tương
giao với Ngài. Phái
này cũng chủ trương sự vật có hai thể loại, thiện
và ác- rất gần với quan niệm nhị nguyên (dualism).
Những gì thuộc về tinh thần hay tâm linh là
thiện lành, còn vật chất là xấu, ác. Dựa
trên tiền đề đó, họ kết luận rằng Thượng Đế
là sự thiện cho nên Ngài không dính dấp hay liên quan
gì đến vật chất. Nghe
đến đây, có thể chúng ta thấy cũng “hợp ly,ù” và
dường như không có gì quá đáng, vì hiển nhiên Kinh
Thánh cũng dạy rằng Đức Chúa Trời là thần.
Nhưng rồi chúng ta thấy họ tiến thêm một bước
xa hơn nữa, dựa trên suy luận cho rằng vì Đức Chúa
Trời là thần linh cho nên
phủ nhận sự nhập thể của Ngài nghĩa là phủ
nhận Giê-xu là Đức Chúa Trời nhập thể.
Họ coi Chúa Giê-xu là một hữu thể thấp kém hơn
Đức Chúa Trời, hoặc giả, Ngài chỉ là một cái bóng
của Đức Chúa Trời mà không thực sự là Đức Chúa
Trời. Đây chính
là chỗ mặt nạ của tà giáo rơi xuống, dù nó đã rơi
xuống một cách nhẹ nhàng, “hợp lý”! Thuyết
Duy Tri cho rằng con người có linh tánh của Đức Chúa
Trời, nhưng linh tánh đó bị nhốt trong thân xác, do đó
họ cho rằng cứu rỗi mang ý nghĩa giải phóng khỏi thân
xác. Ngày nay chủ
trương này vẫn còn hấp dẫn với nhiều người khi
họ quá khổ đau với cuộc sống lo miếng ăn, cái
mặc, nhất là phải thường xuyên đối phó với đủ
thứ bệnh tật khiến cho con người nhiều lúc muốn buông
xuôi, muốn kết thúc sự sống để được giải thoát
khỏi ngục tù là thân xác.
Nhiều năm trước đây đã từng
có một nhóm tà đạo chủ trương trút bỏ thân
xác để có thể thăng tiến sang một tình trạng mới.
Vào tháng 4, 1997, 39
người của nhóm tà đạo Heaven’s Gate theo Herff
Applewhite, vốn là con của một mục sư giáo hội Trưởng
Lão, đã tự sát tập thể tại Rancho Santa Fe,
California, để “thoát ra khỏi thân xác” theo sao
chổi Hale-Bopp “đi lên một vương quốc cao hơn!”
Như vậy chủ trương thân xác là ngục tù hư
xấu khiến cho thuyết Duy Tri không thể chấp nhận được
giáo lý phục sinh và cho rằng không thể có thân xác
mới. Trong một phương diện, những người Sa-đu-sê
thời Chúa Giê-xu cũng đã phủ nhận sự phục sinh như
thế. Thuyết
Duy Tri cũng chủ trương con người phải đến gần Đức
Chúa Trời, hơn nữa phải tương giao với Ngài.
Đây là một tiền đề hiển nhiên không có gì mâu
thuẫn với lời dạy của Kinh Thánh, tuy nhiên phương cách
đến gần Đức Chúa Trời do tà giáo này đưa ra rất
nguy hiểm. Nó có
vẻ “hợp lý” nhưng thực tế lại đưa con người
đi thật xa chân lý. Họ
cho rằng Đức Chúa Trời ở rất xa, trong khi con người
bị giới hạn trong thân xác không thể đến gần Ngài,
do đó cần phải nhờ các thiên sứ làm trung gian. Chúa
Giê-xu cũng là một thiên sứ, nhưng vì có thân xác cho
nên thuộc thứ bậc thấp nhất, gần với con người
nhất. Sau khi nhờ
Chúa Giê-xu, con người còn
phải qua nhiều trung gian khác là các thiên sứ ở
những cấp bậc cao hơn. Vì vậy tà giáo này đã chủ
trương thờ thiên binh, thiên sứ (Cô-lô-se 2:18), là điều
Chúa minh thị nghiêm cấm. Tà
giáo Duy Tri cũng chủ trương để có cuộc sống sung mãn,
con người phải tìm cách tương giao với Đức Chúa
Trời. Đây cũng lại là một tiền đề hợp lý. Tuy
nhiên để thực hành, tà giáo này lại dẫn con người
đi vào những con đường quanh quẹo khác. Họ bảo
rằng vì Đức Chúa Trời
là thần linh thiện hảo, trong khi đó thân xác
con người là vật chất hư xấu cho nên chỉ có phần
tâm linh thiện lành của con người tương giao với Ngài
mà thôi. Vì đời sống thân xác bị coi là hư xấu cho
nên tà giáo này dạy con người phải chế ngự thân xác
bằng nhiều hình thức lễ nghi phiền toái, bằng kỷ
luật cá nhân, bằng những qui định kiêng cữ theo
lối khắc kỷ... mới có hy vọng đạt được tương
giao với Đức Chúa Trời. Nhắc lại những điều này
chúng ta không thấy có gì mới, vì trong thực tế
những giáo điều như thế đầy dẫy trong các tôn giáo
ngày nay. Trong
bối cảnh của một hội thánh bị tà giáo tấn công
như thế, Phao-lô từ chốn lao tù ở thành Rô-ma, đã
viết cho cộng đồng tín hữu tại Cô-lô-se, đưa ra
những lời dạy rõ ràng đối với những quan niệm
nguy hiểm phái Duy Tri nêu lên, cùng những chỉ thị rõ
ràng về những truyền thống thực hành chịu ảnh hưởng
của tà giáo mà ông gọi là
“triết học và lời hư không, theo lời truyền
khẩu của loài người, sơ học của thế gian... qui
tắc, đạo lý loài người... thờ lạy theo ý riêng...khắc
khổ thân thể...” (Cô-lô-se
2:8, 23).
Khi
nói về thần tánh của Chúa Giê-xu, cuốn tiểu thuyết
The Da Vinci Code bảo rằng Giê-xu chỉ là một người
thường, lập gia đình
và có con với Ma-ri Ma-đơ-len.
Thần tánh chỉ được hoàng đế Ngày
nay chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều nỗ lực khác
nhằm lung lạc đức tin Cơ-đốc theo
dạng cuốn tiểu thuyết trên.
Chúng ta cần được trang bị
bằng một kinh nghiệm sống động với Chúa và Lời Ngài.
Việc này đòi hỏi thời gian, kiên
trì và kỷ luật rồi chúng ta sẽ được tưởng thưởng.
Người ta bảo rằng muốn phát
hiện đồng tiền giả, chỉ cần biết rõ đồng tiền
thật. “Tiền
giả” ngày nay rất nhiều chúng ta không đủ thì giờ,
cũng không có công sức đâu tìm hiểu.
Chúng ta chỉ có đủ thì giờ
tập trung vào Lời Chân Lý. Nguyên
Đình Tài
liệu tham khảo: -
Mart De Haan, Been Thinking About
The Da Vinci Code - RBC Ministries June 2005. |
|
|
|