Đầu
Tư
Vào
Truyền
Giáo
Nguyệt
San Christianity Today (Cơ-đốc
Giáo Ngày Nay) số
tháng Ba, 2006
viết
về
công
cuộc
truyền
giáo của
các Hội
Thánh Nam Hàn cho biết
đây là phong trào
truyền
giáo phát triển
nhanh nhất
thế
giới.
Trong bài Missions Incredible (Truyền
Giáo Phi Thường)
Tác giả
Rob Moll
nhắc
lại
lời
Mục
Sư
Billy Graham
nói trong Chiến
Dịch
Truyền
Giảng
Tin Lành
ở Hán Thành
năm
1973 rằng
Triều
Tiên sẽ
trở
thành
bản
doanh truyền
giáo cho Á Châu. Hơn
ba mươi
năm
sau thực
tế
truyền
giáo của
Nam Hàn
đă
vượt
qua lời
tiên
đoán
đó. Mỗi
năm
Hội
Thánh Nam Hàn gởi
thêm hơn
1,100 giáo sĩ
và
hiện
nay có gần
13,000 giáo sĩ
phục
vụ
dài
hạn
khắp
thế
giới,
chỉ
đứng sau
Hoa-kỳ.
Các học
giả
về
truyền
giáo cho rằng
phong trào truyền
giáo từ
Nam Hàn
đang âm
thầm
tạo
ra nhiều
thay
đổi trong sách
lược
truyền
giáo thế
giới.
Trước
đây các nhà
truyền
giáo phương
Tây vẫn
dùng từ
liệu
“truyền
giáo cho thế
giới
thứ
ba” hay
“truyền
giáo cho các nước
đang mở
mang”
th́ nay người
ta nói
đến “công
cuộc
truyền
giáo cho thế
giới
đa
số”
(majority-world missions) mà Nam Hàn
đang
đứng
ở hàng
đầu. Hiện
nay dân số
thế
giới
khoảng
6.4 tỉ
người,
“thế
giới
đa
số”
gồm
các nước
đang phát
triển
chiếm
đến 5.2 tỉ,
trong khi
đó
chưa
đến 18% dân
số
thế
giới
sống
trong các nước
phát triển.
Theo giáo sư
Scott Morrow
của
Đại Học
Wheaton th́ “ngày nay các nhà truyền
giáo phương
Tây không nắm
quyền
chủ
động nữa,
không phải
v́ họ
suy
giảm,
nhưng
chỉ
v́
nhiều
nước
khác
đă
thấy
khải
tượng
và trở
nên
năng
động.” Giáo
sư
Samuel Hugh
Moffett của
Chủng
viện
Thần
Học
Princeton, người
chuyên nghiên cứu
về
Cơ-đốc
Giáo tại
Á-châu th́ cho rằng
tương
lai của
công cuộc
truyền
giáo sẽ
nằm
ở Á-châu.
Nhưng
ông cũng
cho thấy
những
thách thức
lớn
lao của
vùng
đất bao la này,
bảo
rằng,
“Sau 2000 năm
truyền
giáo, Cơ-đốc
nhân chỉ
chiếm
8% dân số
Á-châu.
Như
vậy
là công việc
của
chúng ta chưa
tốt.
Á-châu sùng
đạo hơn
tất
cả
các
lục
địa khác,
nhưng
người
Châu Á lại
coi Cơ-đốc
Giáo là tôn giáo ngoại
lai, trong khi chính Chúa Giê-xu sinh ra
tại
Châu Á!” Cái nh́n này
đă
giúp cho người
Đại Hàn nắm
được một
lợi
điểm
độc
đáo là
đem tin lành
từ
một
quốc
gia Á-châu sang một
quốc
gia Á-châu khác.
Hội Thánh Nam Hàn tăng trưởng mạnh trong thập niên 70 và 80. Cũng từ đó khởi phát phong trào truyền giáo. Năm 1980 Nam Hàn có 80 giáo sĩ, 11 năm sau tăng lên 1,200 và chỉ trong ṿng 15 năm qua, số giáo sĩ Hàn Quốc đă nhân lên hơn 10 lần với 13,000 nhà truyền giáo dài hạn có mặt hầu như khắp thế giới.
Sự xuất hiện và lớn mạnh phi thường của phong trào truyền giáo Đại Hàn trong ṿng hơn 30 năm qua chắc chắn làm chúng ta suy nghĩ. Truyền Giáo và Hội Thánh Tăng Trưởng là nguyên tắc lưỡng diện như hai mặt của đồng tiền, như hai cánh của máy bay, cả hai đều thiết yếu. Tại Nam Hàn, truyền giáo đă trở thành phong trào đi đến tận các hội thánh địa phương, dường như với phương châm “Truyền giáo hay là chết!” V́ vậy ở Nam Hàn b́nh quân cứ 4.2 hội thánh địa phương cử được một giáo sĩ và với đà này không bao lâu tất cả các hội thánh địa phương sẽ đều sẽ có giáo sĩ đến các nước rao giảng tin lành.
Trước năm 1975, Hội Thánh Việt Nam đă có giáo sĩ lên các vùng cao nguyên và qua hai nước láng giềng Cam-bốt và Lào, nhưng đó là chuyện quá khứ. Hiện nay hầu hết các hội thánh đều tập trung vào việc giới thiệu Chúa và giảng Tin Lành tại địa phương, v́ thật ra tỉ lệ người tin Chúa tại quê nhà c̣n rất thấp, chưa đến 2%. Việt Nam vẫn c̣n là cánh đồng truyền giáo rất lớn, và trách nhiệm chia xẻ tin lành của Chúa Giê-xu vẫn đặt nặng trên chúng ta, là những người có cùng văn hóa, nói cùng ngôn ngữ là những ưu điểm rất lớn so với các giáo sĩ nước ngoài. Chúng ta không thể trao trút trách nhiệm này cho ai khác.
Là tôi con Chúa sống xa quê hương, ngoài trách nhiệm chia xẻ tin mừng cho cộng đồng Việt Nam tại đất nước chúng ta đang cư ngụ, v́ ḷng yêu thương đồng bào, chúng ta vẫn có thể đầu tư vào công cuộc truyền giáo cho quê hương. Nói đến “đầu tư” ai cũng nghĩ cách nào đem lại lợi nhuận cao nhất. Về phương diện truyền giáo, các hội thánh hải ngoại đă đầu tư rất nhiều, nhưng kết quả thật khiêm nhường. Tổng số dâng hiến của các hội thánh trong Giáo Hạt Việt Nam Hoa kỳ năm 2004 hơn 6 triệu đô la, nhưng số người tin Chúa chưa đến 1,000 người. Tất nhiên chúng ta không nản chí, không ngă ḷng v́ mọi kết quả đều thuộc Chúa, nhưng là những quản gia thuộc linh, chúng ta cũng cần nghĩ đến những cách “đầu tư” khác có lợi cho Nước Trời.
Một trong những cách đầu tư truyền giáo có lợi trước mắt là đầu tư về Việt Nam, trong khi c̣n cơ hội. Tuy nhiên việc đầu tư này phải được coi là chiến lược đối với Hội Thánh địa phương, v́ truyền giáo sẽ giúp cho giúp hội thánh địa phương sống mạnh và tăng trưởng. Điều này có nghĩa là việc đầu tư truyền giáo không chỉ là công việc của mục sư hay ban chấp hành, nhưng là của tất cả con dân Chúa, nam, phụ, lăo, ấu. Khi mọi người ư thức và tham gia với ḷng hăng hái, với đức tin và t́nh thương chân thật, Chúa sẽ rất vui ḷng và chính Ngài sẽ làm cho Hội Thánh tăng trưởng và đầy sức sống.
Tại Việt Nam có hàng ngh́n Truyền Đạo T́nh Nguyện, là những người dấn thân hầu việc Chúa và sẵn sàng trở thành những giáo sĩ ngay tại quê hương ḿnh. Mỗi hội thánh địa phương hải ngoại có thể hỗ trợ những giáo sĩ đó bằng sự cầu thay và bằng tài chánh để các tôi tớ Chúa không phải bận tâm về sinh kế, có thể dùng trọn thời gian phục vụ Chúa. Ngân quĩ để hỗ trợ giáo sĩ sẽ do toàn thể con cái Chúa trong hội thánh cam kết dâng hiến lâu dài, ngay cả các em thiếu nhi cũng cần được cha mẹ khích lệ góp phần vào ngân quĩ này.
Trong phong trào truyền giáo thế giới, phương thức gửi giáo sĩ đi truyền giáo như vừa nêu có thể là phương thức đơn giản nhất. Giáo sĩ của chúng ta có cùng ngôn ngữ và văn hóa, lại là những người sống ngay tại quê hương là những điều kiện rất thuận lợi cho sứ vụ rao truyền tin mừng. Việc gửi giáo sĩ đi truyền giáo như vừa nêu nếu trở thành phong trào trong các hội thánh