![]()
Vào một ngày đầu tháng Ba năm 1996, trên đường đến trường em Alberto Arredondo, 7 tuổi, thấy một tờ giấy bạc nằm trên lề đường. Khi em nhặt lên thì thấy đó là tờ 100 Mỹ kim. Em định bỏ vào túi, các bạn em cũng bảo em cứ lấy đi, nói rằng tiền lượm được ngoài đường biết của ai mà trả lại. Nhưng em Alberto quyết định đem tờ bạc một trăm đồng đó vào lớp đưa cho cô giáo. Khi cô giáo đưa tờ bạc một trăm đồng lên cho vị hiệu trưởng thì học sinh trong trường đều biết chuyện này. Trong vòng mấy ngày sau, có khoảng năm người sống gần trường gọi điện thoại đến nói rằng đó là tờ bạc họ đã đánh rơi và xin nhận lại. Tuy nhiên, không ai nói đúng mình đã đánh rơi tiền chỗ nào nên nhà trường cứ giữ số tiền đó. Ba tháng sau, tức là sau 90 ngày, đúng như luật định, vì không ai có đủ điều kiện chứng minh mình là sở hữu chủ tờ giấy bạc mà em Alberto đã lượm được nên nhà trường quyết định thưởng cho em số tiền đó. Thật ít có ai khi lượm được ngoài đường tiền bạc, nữ trang hay bất cứ vật gì có giá trị mà thật sự muốn tìm cách trả lại cho người đã mất. Thường thường chúng ta nói ai mất thì ráng chịu và người nào lượm được là của người đó. Hơn nữa nếu mình không lấy thì người khác cũng lấy, đằng nào thì người đánh rơi cũng đã bị mất món đồ đó rồi. Cũng ít có ai dạy con rằng khi ra đường thấy vật gì của ai đánh rơi thì lượm lên và tìm cách trả lại chứ đừng lấy luôn. Không những thế, có người còn muốn con ra đường phải khôn lanh, làm sao lấy của người hay lừa gạt người mà người không biết và ta không bị bắt mới là giỏi. Thật ra khi nhặt được tiền bạc hay vật dụng ngoài đường mà chúng ta giữ cho mình, chúng ta không mắc tội ăn cắp, nhất là khi những vật dụng đó không ghi tên sở hữu chủ. Tuy nhiên, người đem trả lại những gì mình nhặt được ở chỗ công cộng đó mới thật là người ngay thẳng, trong sạch, có tiêu chuẩn sống cao đẹp, đáng được ca ngợi. Trong buổi lễ trao số tiền thưởng, em Alberto đã được khen là người ngay thẳng, có tinh thần tự trọng và là một công dân tốt. Viên chức trao giải thưởng cho Alberto nói: Thường thường những người khác khi lượm được tiền như vậy sẽ rủ bạn đi ăn hoặc lấy tiền đó mua những gì mình thích, nhưng em Alberto đã làm điều tốt, điều phải. Em không giữ cho mình vì biết rằng tiền đó của người khác, không phải của mình. Cha mẹ em Alberto có mặt trong buổi lễ rất hãnh diện về lòng ngay thẳng của con mình. Mẹ em cho biết, khi con bà về nhà kể lại cho bà biết việc em làm, bà đã ôm con vào lòng và khen con làm như thế là đúng. Cha của em cũng vui mừng và hãnh diện khi thấy con mình đã xử sự cách ngay thẳng, dù phải chịu thiệt thòi. Lối giáo dục của cha mẹ em Alberto đã để lại một ảnh hưởng tốt đẹp trên đời sống em. Trong bài kỳ trước, chúng tôi có chia xẻ rằng cách cha mẹ dạy con có một ảnh hưởng vô cùng lớn lao trên cuộc đời của con. Ảnh hưởng đó sẽ tốt hay không tốt là tùy cha mẹ dạy con theo tiêu chuẩn nào và nguyên tắc nào. Thường thường, những ảnh hưởng đó khi con đến tuổi thiếu niên chúng ta mới bắt đầu thấy rõ. Ðể giúp quý vị phụ huynh tránh được những ảnh hưởng không tốt cho con cái sau này, chúng tôi xin chỉ nêu ra đây những cách giáo dục con cái có ảnh hưởng không tốt. Chúng ta có thể so sánh với cách dạy con của chính mình để biết mình sẽ để lại những ảnh hưởng như thế nào trong đời sống con. 1. Những phụ huynh đòi hỏi con phải toàn hảo trong mọi phương diện (The Perfectionistic Parents) Có những bậc cha mẹ đặt tiêu chuẩn rất cao cho chính mình cũng như cho con cái. Họ có nhiều cao vọng, và để đạt được những cao vọng đó, các phụ huynh này áp dụng kỷ luật rất nghiêm khắc với chính mình và với con. Không những thế, họ muốn con phải luôn luôn cố gắng để đạt thành quả tốt nhất trong mọi lãnh vực.
Những cha mẹ chủ trương mức toàn hảo thường thúc đẩy con cố gắng làm hơn những gì các em đã đạt được. Nếu con học khá, cha mẹ sẽ bảo con nên cố gắng thêm để giỏi hơn. Nếu con đã đứng đầu lớp, cha mẹ sẽ khuyến khích để các em đứng đầu lớp luôn luôn. Không những thế, các phụ huynh này thường muốn con làm theo ý mình và chương trình mình đã đặt ra. Có người không muốn con nghỉ ngơi, chơi đùa, cho như thế là phí phạm thì giờ. Vì chủ trương làm việc gì cũng phải toàn hảo, những cha mẹ này ít khi khen con. Họ sợ rằng nếu khen, các em nghĩ là mình giỏi rồi nên sẽ không cố gắng nữa. Con cái của những phụ huynh chủ trương việc gì cũng phải toàn hảo thường có mặc cảm là mình không giỏi, cũng chẳng làm được việc gì. Khi các em làm điều giỏi, điều tốt cha mẹ cũng khen, nhưng lời khen đó luôn luôn kèm theo một lời thách thức hoặc một lời chê. Ví dụ: nếu các em học giỏi, được đứng hạng nhì trong lớp, khi đem phiếu điểm về cho cha mẹ xem, cha mẹ sẽ nói: Con giỏi lắm nhưng phải mà con cố gắng một chút nữa là con đã được hạng nhất rồi! Nếu các em cố gắng thêm và được hạng nhất, cha mẹ sẽ nói: Con cũng giỏi đó, nhưng phải cố gắng để giữ hạng nhất luôn. Có người còn dọa để con phải tiếp tục cố gắng: Con đừng có nghĩ là mình giỏi rồi ỷ y, không cố gắng nữa là chết đó! Khi con học xong trung học, những bậc cha mẹ đòi hỏi sự toàn hảo sẽ thúc đẩy để con tiếp tục vào đại học. Khi con cố gắng học xong cử nhân, họ sẽ nói thế nào để con ráng lấy bằng cao học. Nếu con thích ngành thương mại hay kế toán, cha mẹ sẽ khuyên nhủ để con ráng học kỹ sư. Nếu thấy con muốn học ngành kỹ sư, những phụ huynh này sẽ lấy gương của con người khác hay nói khích thế nào để con ráng học bác sĩ, nha sĩ; không cần biết là con có thích hay có đủ khả năng để học những ngành đó hay không. Có một ông cha kia, khi con cố gắng học xong cử nhân, ông nói: Thời bây giờ cử nhân cũng khó tìm việc làm lắm, con phải ráng lấy mảnh bằng cao học hay tiến sĩ mới mong chen chân với đời, mới có tương lai, v.v... Nói cách tổng quát, những cha mẹ giáo huấn con theo tiêu chuẩn toàn hảo không bao giờ bằng lòng với những thành quả hay cố gắng của con. Khi con làm được điều gì giỏi, đáng khen, họ ít khi nào khen con bằng những câu như Con tôi giỏi quá! hay: Con của bố mẹ như vậy là nhất rồi! Trái lại, cha mẹ chỉ khen là được, khá! mà thôi, có khi còn nói khích những câu như: Con mà chịu khó hơn, siêng năng hơn, thì kết quả còn tốt hơn nữa. Khi các con của chúng ta còn nhỏ, các em không để tâm nhiều đến lời nói của cha mẹ, nhưng khi đến tuổi thiếu niên, các em rất nhạy cảm với lời khuyên, lời khen cũng như lời chê trách của cha mẹ. Nếu lúc nào cha mẹ cũng nói Con cần phải cố gắng thêm, sức của con không phải chỉ chừng đó... Các em sẽ sinh ra mặc cảm tự ti. Các em sẽ cảm thấy buồn và nản lòng vì nghĩ rằng mình đã cố gắng nhiều rồi, hết sức rồi mà đối với cha mẹ như thế vẫn chưa đủ. Vì buồn nản, có khi các em sinh ra chán ghét chính mình và không muốn cố gắng nữa. Khi con cái sống bên cha mẹ, dù cha mẹ không ý thức ảnh hưởng của mình trên con cái, ảnh hưởng đó vẫn có và vẫn rất lớn. Dù biết hay không biết, muốn hay không muốn, cha mẹ vẫn là người đặt khuôn mẫu cho con cái bắt chước. Khi cha mẹ cứ đòi hỏi con phải cố gắng nhiều hơn nữa, các em sẽ nghĩ rằng mình không giỏi, không toàn hảo, vì thế phải luôn luôn cố gắng hơn nữa để đạt đến chỗ toàn hảo. Vì mức toàn hảo cũng như mức tuyệt đối là điều không ai có thể đạt được nên dần dần con em chúng ta sẽ thất vọng với chính mình và chán nản muốn bỏ cuộc. Thúc đẩy con quá nhiều cũng là một trong những lý do khiến con em chúng ta học nhiều quá rồi đâm ra không bình thường hoặc không học đến nơi đến chốn nhưng bỏ cuộc giữa đường. Những em có cha mẹ là người đòi hỏi mức toàn hảo thường cần có sức mạnh tinh thần vững vàng và cần được người chung quanh khích lệ nhiều, các em mới có thể tin tưởng vào chính mình và không có mặc cảm tự ti. Thật ra chúng ta phải đồng ý rằng cha mẹ có thúc đẩy thì con cái mới chịu khó học hành và học đến trình độ cao. Tuy nhiên, mỗi đứa con mỗi khác, cha mẹ cần biết rõ khả năng, tâm tính và sức của con để thúc đẩy một cách thích hợp với từng đứa. Có em cần được cha mẹ thúc đẩy và khép vào kỷ luật mới chịu cố gắng nhưng cũng có em không muốn cha mẹ thúc đẩy hay ép buộc nhưng muốn được tự do phát triển năng khiếu của mình. Nếu con không có khả năng hoặc không thích học một ngành nào đó mà cha mẹ cứ nhất định ép buộc, đó là một lỗi lầm vô cùng lớn lao về phía cha mẹ. Vì lý do đó có em nhờ sự thúc đẩy của cha mẹ mà thành công nhưng cũng có em vì cha mẹ thúc đẩy mà bỏ cuộc, hoặc bỏ học đi hoang. Trong việc hướng dẫn con cái, chúng ta cần ghi nhớ nguyên tắc Chúa dạy: Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó (Châm Ngôn 22:6). Cha mẹ cần hướng dẫn con cái đi con đường mà Chúa đã dành cho các em, thích hợp với khả năng và sức lực của các em chứ không phải hướng dẫn con theo con đường cha mẹ muốn, để đạt thành những điều cha mẹ mơ ước. Nếu theo dõi tin tức, có lẽ quý vị còn nhớ tin một em bé gái bảy tuổi lái máy bay và đã chết khi chiếc máy bay rớt vì gặp bão. Em bé đó tên là Jessica Dubroff. Vào ngày 11 tháng 4 năm 1996, em Jessica lái chiếc máy bay nhỏ, cùng với cha và một viên phi công dạy lái. Mục tiêu mà ông Dubroff, cha em Jessica, đã đặt ra và cố gắng để đạt được là: con gái của ông sẽ được sử sách ghi là người nhỏ tuổi nhất đã lái máy bay xuyên qua nước Mỹ. Cha của em Jessica là người thích phiêu lưu và rất mê lái máy bay. Mẹ của em là một người có chủ trương phóng khoáng, cho con cái tự do làm những gì nó muốn. Cha và mẹ của em Jessica đã thúc đẩy em làm điều ông bà mơ ước, dù biết đó là điều khó, không đúng luật và quá nguy hiểm đối với một em bé gái bảy tuổi. Tuy nhiên vì muốn con mình được nổi tiếng, được mọi người ca ngợi và được ghi tên vào sử sách, cha mẹ em đã đặt mục tiêu đó cho con và thúc đẩy con. Ông bà Dubroff không cho con đi học ở trường như những trẻ em khác. Trong ngày em Jessica lên 6 tuổi, cha mẹ mừng sinh nhật em bằng cách cho em đi một chuyến máy bay. Từ đó em ham thích biết lái máy bay. Cha mẹ em liền tìm người dạy em lái máy bay. Ông bà đã bỏ ra nhiều tiền để thực hiện mục tiêu là con gái của mình sẽ là người nhỏ tuổi nhất trên thế giới biết lái máy bay. Một tháng trước khi em Jessica được 8 tuổi, cha em đã thúc đẩy và hoạch định chương trình cho em bay một vòng xuyên qua nước Mỹ để đạt kỷ lục là người trẻ tuổi nhất lái máy bay đi qua cả nước, từ tây sang đông. Sau chặng bay thứ nhất, em Jessica được các nhà báo phỏng vấn, các đài truyền hình thu hình và tên em được nhắc đến trong bản tin tức của cả nước. Cha mẹ em và em rất thỏa mãn và hãnh diện vì điều họ mơ ước sắp thành sự thật. Riêng em Jessica dù rất mệt mỏi cũng cố gắng tươi cười với những người chào đón và tiễn đưa em khi bắt đầu chặng bay thứ nhì. Nhưng tội nghiệp cho Jessica, máy bay của em đã rớt ngay sau đó. Không những mộng ước của cha mẹ em tiêu tan nhưng cuộc đời và tương lai của em cũng chấm dứt trong ngày hôm đó. Câu chuyện thương tâm trên đây là một ví dụ rõ ràng về nguy hiểm của việc cha mẹ thúc đẩy con cái làm những điều quá sức của chúng, để thỏa mãn tham vọng của cha mẹ. Là cha mẹ chúng ta có trách nhiệm khuyến khích và nâng đỡ con để các em tiến thân trên đường học vấn, sống trong kỷ luật hầu sau này trở nên người công dân tốt, hữu ích cho xã hội. Chúng ta cũng cần hướng dẫn thế nào để con có đức tin mạnh mẽ, có đời sống làm vinh Danh Chúa. Nhưng chúng ta không nên đòi hỏi nơi con những điều quá đáng, hay bắt buộc con làm những điều quá sức của chúng. Là trẻ con, các em cần được sống trong thoải mái, vô tư. Ngoài giờ học, các em cần được chơi, được vui đùa với bạn bè để các em có thể lớn lên cách tự nhiên bình thường, đúng với bản tính của trẻ con. Nếu cha mẹ đặt cho con mục tiêu quá cao, thúc đẩy con quá nhiều khi con còn quá nhỏ chắc chắn sẽ gây ra nhiều hậu quả không lường được. Khi con còn nhỏ, cha mẹ hãy cho con được làm trẻ con. Ðừng buộc con phải làm người lớn, chẳng hạn như bảo con phải biết lo lắng, tính toan, phải biết xã giao với người chung quanh, phải cố gắng để được tiếng khen, được mọi người khâm phục, v.v... Tất cả những điều đó có thể gây tai hại trong cuộc đời con sau này. Có một chàng thanh niên nọ vì cha mẹ thúc đẩy, khép vào kỷ luật từ nhỏ nên học giỏi và bây giờ đã tốt nghiệp ngành y khoa. Tuy nhiên, mỗi khi nhìn thấy các em nhỏ leo trèo chạy nhảy chơi đùa, anh thấy buồn cho chính mình vì tuổi thơ của anh không bao giờ có những giờ phút chơi đùa vô tư thoải mái như thế. Chúa Giê-xu của chúng ta không xem thường trẻ em, dù bận rộn với những công tác lớn lao, Ngài vẫn không quên các em. Chúa quý trọng các em, dành thì giờ cho các em và đề cao tính hồn nhiên, vô tư, chân thật của các em. Chúng ta biết điều này qua những chi tiết ghi lại trong các sách Phúc Âm. Một lần nọ khi Chúa Giê-xu đang bận rộn giảng dạy, một số các bà mẹ muốn đem con đến gần Chúa để Ngài ban phước thì các môn đồ không cho. Thấy vậy Chúa bèn trách các môn đồ. Phúc Âm theo thánh Mác ghi như sau: Người ta đem những con trẻ đến cùng Ngài, đặng Ngài rờ chúng nó, nhưng môn đồ trách những kẻ đem đến. Ðức Chúa Giê-xu thấy vậy bèn giận mà phán cùng môn đồ rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó; vì Nước Ðức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai chẳng nhận lấy Nước Ðức Chúa Trời như một đứa trẻ thì chẳng được vào đó bao giờ. Ngài lại bồng những đứa trẻ ấy mà chúc phước cho (Mác 10:13-16) Noi gương Chúa chúng ta cần quý trọng trẻ con, nhất là những đứa con mà Chúa đã trao phó cho chúng ta nuôi dạy, chăm sóc. Chúng ta cũng cần đặt nặng trách nhiệm dạy dỗ và hướng dẫn con trong đường lối của Chúa, vì công tác này không chỉ có ảnh hưởng trên con trong đời tạm này mà còn ảnh hưởng đến số phận đời đời của con nữa. (Còn tiếp)