THONGD.JPG (18112 bytes)

CHO và NHẬN

Một trong những truyền thống của mùa Giáng Sinh là tặng quà cho nhau. Tuy chỉ là một truyền thống tôn giáo và ngày nay đã bị thương mại hóa, nhưng truyền thống nầy bắt nguồn từ ý nghĩa thật của Lễ Giáng Sinh. Chúa Cứu Thế Giê-xu ra đời như là món quà vĩ đại của Ðức Chúa Trời ban cho nhân loại. Ðộng cơ đàng sau của món quà vĩ đại nầy của Ðức Chúa Trời ban cho là tình yêu thương.

Cổ Học Tinh Hoa cũng kể chuyện ông Phạm Trọng Yêm làm đến chức Tể Tướng Trung Quốc đời nhà Tống (khoảng năm 960 đến 1279). Tuy chức vụ cao như vậy, nhưng ông ta vẫn nghèo suốt đời, lý do là vì ông ta rất thanh liêm và có tính thương người, hay giúp đỡ những người túng thiếu. Ông có một người con trai tên là Phạm Thuần Nhân. Một lần nọ, ông Phạm Trọng Yêm để dành được 500 thùng lúa, bèn sai cậu con trai chèo thuyền chở gạo về quê. Lúc trở về nhà, ông Phạm Trọng Yêm hỏi con: "Con đi đường có gặp ai không?" Cậu con trai trả lời: "Dạ có, con đến Ðan Dương thì gặp một người bạn cũ của cha tên là Thạch Man Khanh nhà nghèo khổ, lại một lúc liền ba cái tang, nên con đã cho ông ta hết cả 500 thùng lúa rồi." Ông Phạm Trọng Yêm hỏi tiếp: "Sao con không cho luôn cả chiếc thuyền?" Cậu con trai trả lời: "Dạ thưa cha, con cũng đã cho luôn cả chiếc thuyền nữa!" Nghe như vậy, ông Phạm Trọng Yêm cười một cách sung sướng: "Như thế mới thật xứng đáng làm con của ta!"

Thật đúng là "cha nào con nấy!" và đúng với hai câu thơ dân gian: "Sướng gì hơn sướng làm lành. Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu". Con cháu của ông Phạm Trọng Yêm nầy chắc chắn không hưởng được của cải nào của ông ta để lại cả, vì có bao nhiêu của ông ta cho người nghèo hết rồi! Như vậy ông ta đã để dành cái gì cho con cháu? Ông ta đã để lại tiếng thơm ngàn đời cho con cháu. Của cải vật chất để lại bao nhiêu rồi cũng mất, nhưng tiếng thơm mà ông Phạm Trọng Yêm để lại cho con cháu thật lâu đời, cả ngàn năm rồi mà đến bây giờ sử sách vẫn còn nhắc lại!

Ðọc câu chuyện hay nầy làm tôi nhớ lại một câu Kinh Thánh rất quen thuộc. Ðó là Giăng 3:16, "Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời." Câu Kinh Thánh nầy có hai phần chính: thứ nhất, Ðức Chúa Trời là Ðấng ban cho; và thứ hai, chúng ta là những người nhận lãnh. Và điểm lạ lùng hơn hết là điều Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta không phải là của cải vật chất, nhưng là Con Một của Ngài; và chúng ta cũng không nhận lãnh của cải vật chất nhưng nhận lãnh Con Một của Ðức Chúa Trời.

Tất cả chúng ta ai cũng muốn nhận lãnh, nhưng không có người ban cho thì lấy gì mà nhận lãnh? Do đó, trước hết, mời quí vị suy nghĩ về Ðức Chúa Trời là Ðấng ban cho.

 

Ðức Chúa Trời là

Ðấng ban cho

 

Quí vị làm cha mẹ muốn cho con cái điều gì? Ða số mọi người đều nghĩ rằng cha mẹ nên cho con ăn học tới nơi tới chốn, lo dựng vợ gả chồng cho con khi lớn khôn, và cố gắng làm lụng để cho con tiền của, vốn liếng làm ăn khi ra đời v.v... Nhiều bậc cha mẹ đã chịu khó hi sinh để cho con những điều vừa kể. Ở những nước nghèo như Việt Nam chúng ta, nhiều cha mẹ bữa no bữa đói nhưng vẫn cố gắng cho con ăn học thành tài. Câu ca dao "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" đã nói lên đầy đủ công ơn của cha mẹ đối với con cái.

Tuy nhiên, các nhà tâm lý, các chuyên viên giáo dục nhi đồng và các bác sĩ chuyên về nhi khoa, thường hay khuyên cha mẹ phải dành cho con tình yêu thương, đặc biệt là lúc con còn nằm trong bụng mẹ và vừa mới sinh ra. Các bác sĩ khuyên các bà mẹ đang lúc mang thai phải nói những lời yêu thương dịu ngọt với đứa con trong bụng và dành cho con sự âu yếm sau khi sinh con ra. Tình thương của cha mẹ dành cho con là điều quí hơn hết, cần thiết hơn hết, và quan trọng hơn tất cả những điều vừa kể như tiền bạc, của cải v.v... Các chuyên viên nói rằng nếu một đứa trẻ lúc nhỏ thiếu tình thương của cha mẹ thì khi lớn lên nó có thể dễ trở thành bất bình thường về tâm lý và có thể đưa đến những sai trật trong thể xác nữa. Tình thương của cha mẹ không thể thay thế bằng tình thương của bất cứ ai, kể cả tình thương của ông bà nội ngoại. Biết bao nhiêu trẻ con vì cha mẹ ly dị, vì không có cha, vì mẹ bỏ rơi, thiếu tình thương của cha mẹ lúc còn nhỏ, nên đã trở thành những người bất bình thường. Thống kê của Cảnh sát Mỹ cho biết đa số những thiếu niên phạm pháp đều là con của những gia đình ly dị, hoặc không có cha.

Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật trong đó có loài người. Nhưng giữa muôn vật và loài người là một sự khác biệt vô cùng to lớn: Thánh Kinh cho biết muôn vật được Ðức Chúa Trời dựng nên bằng lời phán của Ngài, nhưng chỉ có loài người là được Ðức Chúa Trời dựng nên bằng chính bàn tay của Ngài. Thánh Kinh thuật rằng Ðức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người và hà sinh khí của Ngài vào thể xác người để người trở nên một loài sanh linh nghĩa là có phần linh hồn. Nói khác đi, chỉ có loài người mới được mang hình ảnh của Ðức Chúa Trời mà thôi, vì muôn loài khác không được dựng nên theo hình ảnh của Ðấng Tạo Hóa. Trong bản gia phả của A-đam, con người đầu tiên do Chúa tạo dựng, A-đam được gọi là "con Ðức Chúa Trời" (Lu-ca 3:28). Do đó, trên một phương diện, chúng ta có thể gọi loài người là con của Ðức Chúa Trời. Mặc dù loài người sa ngã, phạm tội, và xa cách Ðức Chúa Trời; nhưng Ðức Chúa Trời vẫn tìm cách để cứu rỗi những đứa con lạc lõng.

Là Ðấng Tạo Hóa, Ðức Chúa Trời đã ban cho loài người rất nhiều thứ: sự sống, sức khoẻ, trí khôn, không khí, thức ăn, nước uống v.v... Dù nhiều người cố tình khước từ Ðức Chúa Trời, phủ nhận cả sự hiện hữu của Ngài, nhưng vẫn hằng ngày tiếp nhận từ Ðức Chúa Trời mọi ơn lành của Ngài. Ông Johannes Kepler, nhà thiên văn học nổi tiếng của nước Ðức, là một người tin Chúa. Một ngày nọ có một người bạn đến thăm để thảo luận với ông Kepler về các ngôi sao. Ông nầy là một người vô thần. Nhưng khi bước vào phòng làm việc của ông Kepler, người bạn thấy một mô hình thái dương hệ để trên một chiếc bàn lớn và hỏi ông Kepler: "Anh kiếm đâu ra mô hình quá đẹp như vậy? Anh làm ra phải không?" Nhà thiên văn học Kepler trả lời: "Tôi cũng đang thắc mắc như anh đây! Sáng nay, khi bước vào phòng làm việc, tôi thấy mô hình nầy tự nhiên nằm chình ình trên bàn. Tôi đoán mô hình nầy tự nó làm ra nó." Người bạn cười to: "Thôi đi ông bạn! Ðây là một mô hình rất tinh xảo, và nếu anh là người làm ra nó, tôi xin có lời khen anh là một nhà sáng chế quá giỏi!" Lúc ấy, nhà thiên văn học Kepler mới nói: "Nếu anh nói rằng mô hình đồ chơi nầy không thể tự nó làm ra nó, thì làm sao anh dám nghĩ rằng cả vũ trụ nầy lại không do một Ðấng Tạo Hóa dựng nên? Làm thế nào mà những ngôi sao vĩ đại tự nhiên hiện hữu được? Làm thế nào mà các hành tinh họp lại thành thái dương hệ được? Phải có một Ðức Chúa Trời là Ðấng thông minh và quyền năng vô hạn dựng nên các ngôi sao, các hành tinh, các dãy thiên hà chứ?"

Chẳng những Ðức Chúa Trời là Ðấng tạo dựng muôn vật mà Ngài còn là Ðấng đã đặc biệt dựng nên loài người "theo hình ảnh của Ngài" như Sáng thế ký 1:27 chép. Vì mang hình ảnh của Ðấng Tạo Hóa trong tâm hồn, nên giữa loài người và Ðức Chúa Trời có một mối quan hệ đặc biệt. Ðức Chúa Trời là Cha trên trời của chúng ta. Cha trên trần gian nầy dù bất toàn còn biết yêu con thì huống chi Cha trên trời? Vì vậy, phần đầu của câu Kinh Thánh trong Giăng 3:16 nói rằng "Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài..." Nói cách khác, Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta điều quí nhất của Ngài là tình thương, và tình thương nầy đã được cụ thể hóa bằng chính Con Một của Ðức Chúa Trời.

Ðức Chúa Trời ban cho quí vị và tôi "Con Một" của Ngài là Chúa Giê-xu. Danh từ "Con Một" ở đây được dùng để phân biệt giữa Chúa Giê-xu và tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta đều là con người do Ðức Chúa Trời dựng nên nhưng Chúa Giê-xu là "Con Một" của Ðức Chúa Trời trong ý nghĩa Ngài có đồng bản thể với Ðức Chúa Trời, hay nói cách khác Chúa Giêxu chính là một trong ba ngôi Ðức Chúa Trời như Thánh Kinh mạc khải cho chúng ta biết.

Có bao giờ quí vị tự hỏi tại sao Ðức Chúa Trời không ban cho tất cả loài người chúng ta những điều mà con người thường mơ ước như phước, lộc, thọ không? Sống lâu, giàu có, sung sướng là điều mà mọi người đều ao ước. Tại sao Ðức Chúa Trời lại ban Con Một của Ngài là Chúa Giêxu cho chúng ta? Câu trả lời rất phức tạp, nhưng tôi xin tóm tắt như sau: Tại vì lúc đầu Ðức Chúa Trời đã ban cho loài người đầy đủ mọi điều cần thiết, Ngài ban cho phước, lộc, thọ dư dật rồi, nhưng vì loài người phạm tội, và hậu quả của tội lỗi là sự chết; chẳng những chết về thể xác sau một thời gian ngắn sống trên đời nầy, mà còn chết đời đời trong hỏa ngục khi bước vào bên kia thế giới.

Trong thời gian phục vụ Chúa tại Seattle, tôi đến bệnh viện Swedish thăm một người tên là Vũ Văn Phước. Anh Phước còn trẻ, khoảng trên 30 tuổi, mới bảo trợ vợ từ Việt Nam qua được gần 2 tháng nay. Ðang đi làm, anh bị mệt và xỉu, chở vào nhà thương, bác sĩ khám xong chở ngay vào phòng mổ. Mạch tim lớn của anh bị bể và một trái thận bị hoàn toàn hư. Bác sĩ lấy thận ra, và tạm nối mạch tim, nhưng cho biết anh chỉ có thể sống 24 giờ đồng hồ nữa mà thôi. Tôi vào thăm hỏi anh có bằng lòng tin Chúa Giê-xu là Ðấng đã chịu chết đền tội cho anh không, thì anh làm dấu bằng mắt bằng lòng. Tôi cầu nguyện cho anh và sáng hôm sau anh Phước tỉnh dậy và hát. Nhưng anh Phước đã qua đời vào buổi trưa ngày kế tiếp. Anh Phước đã kết thúc cuộc sống trên trần gian này lúc anh còn quá trẻ. Anh đã bước vào cõi đời đời, và theo lời Kinh Thánh nếu anh thật sự tin Chúa Giê-xu thì anh đang ở trong nước của Chúa, còn nếu anh chưa tin Chúa Giê-xu thì sẽ chờ đến ngày cuối cùng để chịu phán xét trước tòa chung thẩm của Ðức Chúa Trời. Anh Phước không thể đem gì qua bên kia thế giới, tiền bạc, của cải, nghề nghiệp v.v... ngay cả người vợ yêu dấu của anh mới từ Việt Nam qua!

Thưa quí vị! Dù Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta phước, lộc, thọ đi nữa thì cũng chỉ có giá trị và giới hạn trong đời nầy mà thôi. Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta món quà quí nhất. Ngài ban "Con Một" của Ngài là Chúa Giê-xu. Thật ra, cho của nói vậy mà dễ nhưng cho con thật khó. Người ta kể câu chuyện một gia đình giàu có nọ hiếm con, nhưng ở gần có một gia đình người bạn nghèo nhưng lại rất đông con: đến 9 đứa! Vì hai gia đình chơi thân với nhau, nên gia đình giàu thường đến thăm gia đình nghèo, và lần nào cũng mua bánh kẹo quần áo cho chín đứa con. Một lần nọ, ông bà nhà giàu thành thật ngỏ ý muốn xin người bạn nghèo cho mình một đứa con để làm con. Hai ông bà nhà nghèo quá nể nên trả lời sẽ suy nghĩ lại. Thế là một buổi tối nọ, cả gia đình ngồi lại để bàn tính nên cho đứa nào. Không thể cho thằng Hai, vì nó là con trưởng trong gia đình. Không thể cho con Ba, vì nó là con gái lớn trong nhà. Con Tư thì giống mẹ quá cho không được. Thằng Năm thì lại giống cha quá cho cũng không được. Thằng Sáu thì học rất thông minh biết đâu sau nầy nó sẽ ra bác sĩ cho cả nhà nhờ? Con Bảy thì không đẹp lắm nhưng tánh nhỏng nhẽo dễ thương vô cùng. Thằng Tám thì quá giống ông nội. Con Chín giống bà ngoại. Chỉ còn thằng Mười mới lên một tuổi có lẽ cho được! Nhưng mới nói đến đó, thì cả 8 đứa kia òa lên khóc: "Cả nhà có mỗi một thằng Út cưng như cưng trứng mà ba má cho sao đành?"

Nhưng Ðức Chúa Trời đã ban Con Một của Ngài cho chúng ta vì Ngài thương yêu chúng ta và muốn cứu rỗi chúng ta, muốn ban cho chúng ta sự sống đời đời và hạnh phúc đời đời trong nước thiên đàng. Thánh Kinh chép: "Lòng Ðức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Ðức Chúa Trời đã sai Con Một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống." (I Giăng 4:9).

 

Chúng ta là những người nhận lãnh

 

Ðức Chúa Trời là Ðấng ban cho, Ðức Chúa Trời ban "Con Một" của Ngài là Chúa Giê-xu đến trần gian chịu chết chuộc tội cho chúng ta để chúng ta nhờ Chúa Giê-xu mà được sự sống đời đời. Nhưng ơn cứu rỗi của Ðức Chúa Trời chỉ có thể thành tựu trong những người nhận lãnh ân sủng đó, tức những người bằng lòng tiếp nhận Chúa Giêxu làm Chúa của đời sống. Phần hai của câu Kinh Thánh Giăng 3:16 rất rõ ràng: "Hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời."

Trước hết, chúng ta thấy Ðức Chúa Trời không hạn chế người nhận lãnh. Mấy chữ "hầu cho hễ ai" ám chỉ bất cứ ai và bao nhiêu người cũng được. Cũng không có một điều kiện nào được nêu ra cho người nhận lãnh. Chúa không đòi hỏi người nhận lãnh phải là người đạo đức, giàu có, học thức v.v... Thật ra, thì Ðức Chúa Trời muốn cho tất cả mọi người, không phân biệt ai, đều hưởng được ân huệ của Ngài, như câu Thánh Kinh trong thư II Phi-e-rơ 3:9 chép, "Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn mọi người đều ăn năn." Ðức Chúa Trời ban Con Một của Ngài là Chúa Giê-xu cho tất cả mọi người, vì Ngài muốn tất cả mọi người được sự sống đời đời.

Kế đó, chúng ta thấy người nhận lãnh Chúa Giê-xu là người "tin" Chúa Giê-xu. Câu Kinh Thánh chép: "hầu cho hễ ai tin Con ấy..." Nhưng tin Chúa Giê-xu là tin như thế nào? Có phải tin có Chúa Giê-xu không? Tin như thế chưa đủ! Vì dù quí vị tin hay không tin có Chúa Giê-xu thì vẫn có Chúa Giêxu, như người bạn vô thần của ông Johannes Kepler, tin hay không tin có Ðấng Tạo Hóa thì vẫn có Ðấng Tạo Hóa. Tôi không cần phải dùng những từ ngữ thần học hay triết học để giải thích động từ "tin". Qua câu Kinh Thánh Giăng 3:16 nầy, thì "tin Chúa Giê-xu" có nghĩa rất đơn giản: tiếp nhận Chúa Giê-xu cho riêng mình.

Quí vị có dự đám cưới trong nhà thờ Tin Lành chưa? Trong lời giao kết của cô dâu chú rể, Mục Sư thường hỏi hai người: "Anh gì đó... có bằng lòng tiếp nhận chị gì đó... làm vợ không? và "Chị gì đó... có bằng lòng tiếp nhận anh gì đó... làm chồng không?" Chú rể tiếp nhận cô dâu về làm vợ của mình, cô dâu tiếp nhận chú rể làm chồng của mình. Hai người sống chung với nhau trọn đời, và như lời hứa nguyện trước mặt Chúa và Hội Thánh cũng như gia đình và bạn bè, không hoàn cảnh nào, dù nghèo hay giàu, dù mạnh hay yếu, dù sướng hay khổ có thể chấm dứt cuộc hôn nhân được, chỉ có cái chết mà thôi. Cũng vậy, tin Chúa Giê-xu là tiếp nhận Chúa Giê-xu vào tâm hồn, tiếp nhận Chúa Giê-xu làm chủ cuộc sống của mình trọn đời, không thể vì một hoàn cảnh khó khăn thử thách nào mà bỏ Chúa ra ngoài cuộc sống của mình được.

Tin Chúa Giê-xu không có nghĩa là nhập vào một tôn giáo, là ghi tên trong danh sách tín đồ của giáo hội, hay theo đạo của người làm ơn cho mình, của người bảo trợ mình. Nhiều người hiểu lầm tin Chúa Giêxu là như vậy nên không kinh nghiệm được sự sống đời đời mà Chúa ban cho mình, và cuối cùng cũng sẽ bị hư mất trong hỏa ngục. Câu Kinh Thánh Giăng 3:16 nói rõ: "Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời." Chúng ta phải thật sự tin Con Một của Ðức Chúa Trời hay tiếp nhận Chúa Giê-xu vào tâm hồn thì mới "không bị hư mất" nhưng "được sự sống đời đời".

Phước hạnh trước tiên mà người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu nhận lãnh được là:

1. "Không bị hư mất". Ðộng từ "hư mất" trong Thánh Kinh được dùng trong ý nghĩa là "đời đời xa cách Ðấng Tạo Hóa, và đời đời khổ đau trong hỏa ngục". Mỗi người chúng ta sinh ra mang theo bản tánh tội lỗi của A-đam nên sinh ra để đi đến chỗ chết. Thể xác chúng ta sống một thời gian rồi phải chết, không ai tránh được cánh cửa của sự chết. Nhưng con người được Ðấng Tạo Hóa dựng nên còn có phần linh hồn bất diệt, nên ngoài cái chết về thể xác, linh hồn bất diệt phải lãnh hậu quả "hư mất", nghĩa là trong đời nầy phần linh hồn bị xa cách Ðấng Tạo Hóa, còn qua đời sau thì linh hồn và cả thể xác nữa phải chịu khổ đau đời đời trong hỏa ngục. Hỏa ngục được Ðấng Tạo Hóa dựng nên không phải để trừng phạt loài người, nhưng để trừng phạt ma quỉ. Nhưng những người tội lỗi mà không chịu tiếp nhận ân sủng cứu rỗi của Ðấng Tạo Hóa ban cho thì sẽ cùng chung số phận với ma quỉ.

Tình trạng "hư mất" bắt đầu ngay khi loài người phạm tội. Tội lỗi ngăn cách chúng ta với Ðức Chúa Trời. Chúng ta đáng lý sinh ra với tư cách là "con của Ðức Chúa Trời" như ông A-đam là người đầu tiên do Chúa dựng nên, nhưng vì tội lỗi chúng ta bị mất đi địa vị hạnh phước nầy. Nhưng trong kế hoạch cứu nhân độ thế, Ðức Chúa Trời ban "Con Một" của Ngài cho chúng ta. Chúa Giê-xu sinh ra làm người, nhưng là một người tuyệt đối vô tội. Con người tuyệt đối vô tội đó đã mang gánh hết tội lỗi của loài người và chịu chết thế cho loài người. Sự chết hi sinh của Chúa Giê-xu mang lại ơn cứu độ cho toàn thể mọi người vì Ngài chịu chết thế cho toàn thể mọi người. Nhưng ơn cứu độ chỉ có hiệu lực cho những ai tin nhận Chúa Giê-xu mà thôi. Khi tin nhận Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ không bị "hư mất" nữa.

Cũng như từ "hư mất" có hai nghĩa, thì từ "không bị hư mất" cũng có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là người tin nhận Chúa Giêxu sẽ không còn bị xa cách Ðấng Tạo Hóa nữa, vì sự ngăn cách của tội lỗi đã bị phá hủy khi Chúa Giêxu thay chúng ta chịu chết để đền tội cho chúng ta. Người tin Chúa Giêxu được phục hồi địa vị "làm con Ðức Chúa Trời" như câu Thánh Kinh trong Giăng 1:12, "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài (tức Chúa Giêxu) thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời." Vì là con của Ðức Chúa Trời, chúng ta được phép gọi Ðức Chúa Trời bằng Cha trên trời, và được Ngài ban ơn phước cho chúng ta. Nghĩa thứ hai của từ "không bị hư mất" là dù thể xác chúng ta cũng sẽ phải bước qua cánh cửa của sự chết như toàn thể nhân loại, nhưng linh hồn chúng ta sẽ bước vào nơi phước hạnh đời đời bên cạnh Ðấng Tạo Hóa, chứ không vào hỏa ngục đau khổ đời đời. Thể xác của những người tin nhận Chúa Giê-xu khi chết không mất đi như những người duy vật chủ trương, nhưng chờ đợi đến ngày Chúa Giê-xu trở lại trần gian nầy lần thứ hai, sẽ được sống lại với một thân thể mới cũng bất diệt như phần linh hồn, để sống trường sanh bất tử trong nước thiên đàng với Ðức Chúa Trời.

 

2. "Ðược sự sống đời đời". Ðây là phước hạnh thứ hai và vô cùng quan trọng của những người tin nhận Chúa Giê-xu. "Sự sống đời đời" có nghĩa là ngoài sự kiện được phục hồi địa vị làm con cái Ðức Chúa Trời đang khi thể xác còn sống trên trần gian nầy, mà còn sẽ được sống cả linh hồn lẫn thể xác đời đời trong thiên đàng với Ðức Chúa Trời để hưởng mọi phước hạnh vô cùng lạ lùng mà chúng ta bây giờ với trí hữu hạn không cách nào hiểu thấu.

Ðến đây, chúng ta phải đối diện với một câu hỏi rất quan trọng và thực tế: "Làm sao mà biết mình được sự sống đời đời khi tin nhận Chúa Giê-xu?"

- Thứ nhất, chúng ta phải tin chắc như vậy vì Ðức Chúa Trời đã hứa như vậy. Ðức Chúa Trời không thể nói dối. Trên đời nầy, tùy theo người đưa ra lời hứa hẹn mà chúng ta tin hay không tin. Một chính trị gia đưa ra lời hứa hẹn nào đó, thì chúng ta chớ vội tin vì lời hứa của ông ta lúc tranh cử có thể bị nuốt mất sau khi ông ta đắc cử. Mấy lời rao hàng "free" của hãng bán xe cũng vậy! Mua chiếc xe van nầy sẽ được tặng một thùng đựng nước đá để đi chơi! Thưa quí vị! Chiếc xe đã được lên giá một chút rồi để bù vào thùng đựng nước đá, chứ không free đâu!

Nhưng Ðức Chúa Trời không thể nói dối. Chúa cho là cho không! Vì vậy mà khi Ðức Chúa Trời hứa "ai tin Con ấy, tức Chúa Giê-xu, không bị hư mất mà được sự sống đời đời" thì chúng ta phải tin quyết như vậy. Người đáng tin cậy không bao giờ đưa ra lời hứa không đúng sự thật. Ðức Chúa Trời không thể đưa ra những lời hứa không đúng sự thật được. Cho nên, khi Ðức Chúa Trời hứa sẽ ban sự sống đời đời cho những ai tin nhận Con Ngài, thì chắc chắn người tin sẽ được sự sống đời đời.

- Thứ hai, sự sống đời đời không phải sẽ bắt đầu khi chúng ta qua đời nầy vào trong thiên đàng, nhưng bắt đầu ngay giờ phút chúng ta thật sự tin nhận Chúa Giêxu. Chúa cho chúng ta nếm ngay sự sống đời đời dưới hình thức sự bình an nội tâm, sự thỏa mãn trong tâm linh, sự vui mừng lạ lùng không thể mô tả mà chúng ta kinh nghiệm được khi thành tâm tin nhận Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu phán trong Mathiơ 11: 28 "Hỡi những ai đang mệt nhọc và nặng gánh ưu tư! Hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi." Người thật sự tin Chúa Giê-xu chắc chắn sẽ nhận được sự bình an lạ lùng của Chúa. Thánh Kinh mô tả sự bình an của Chúa ban cho là "sự bình an của Ðức Chúa trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Ðức Chúa Giê-xu Christ." (Phi-líp 4:7). Ðây không phải là sự bình an không sóng gió nhưng là sự bình an giữa cơn sóng gió của cuộc đời. Người ta kể câu chuyện về một cuộc thi vẽ tranh với đề tài "bình an". Bức tranh chiếm giải nhất là bức tranh mới thoạt nhìn là cảnh một bờ biển sóng gió rất ghê rợn đập vào ghềnh đá. Nhưng giữa ghềnh đá là một hang nhỏ bên trong có mấy con chim non đang an lành ngủ dưới cánh của con chim mẹ. Một hình ảnh khác của sự bình an trong Chúa là dòng nước dưới đáy biển. Những người đi trong các tàu ngầm cho biết trên mặt biển sóng to gió lớn, nhưng dưới đáy biển lúc nào cũng yên lặng như tờ. Người thật sự tin Chúa sẽ nếm ngay được sự sống đời đời qua sự bình an nội tâm nầy. Bình an vì biết mình nằm trong tay Chúa. Bình an vì biết nơi đến của mình là thiên đàng phước hạnh đời đời.

Người tin Chúa cũng nếm trải sự sống đời đời qua sự vui mừng. Ðây là niềm vui không tùy thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Ðây là niềm vui biết mình đã được Ðức Chúa Trời tha thứ tội lỗi, biết mình được Chúa nhận làm con của Ngài. Ðây là niềm vui mà con người không thể mua bằng tiền bạc. Một nhà tâm lý tiếp một thân chủ mặt mày rất buồn thảm. Sau khi nghe tâm sự rất buồn của thân thủ, vị bác sĩ tâm lý khuyên: "Ông nên tìm cách giải sầu bằng cách đi nghe chương trình hài kịch của một nghệ sĩ nổi tiếng trong thành phố." Ông thân chủ đứng dậy cám ơn và nói: "Thưa bác sĩ, tôi chính là nhà nghệ sĩ nổi tiếng đó!". Chỉ trong ơn cứu rỗi của Chúa Giê-xu, chúng ta mới nhận được sự vui mừng vô tả của sự sống đời đời.

Thưa quí vị! Phần đầu của câu Kinh Thánh Giăng 3:16 đã thành sự thật rồi. "Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài..." Chúa Giê-xu là Con Một của Ðức Chúa Trời đã giáng thế cách đây hai ngàn năm tại Bết-lê-hem mà chúng ta kỷ niệm Lễ Giáng Sinh hằng năm. Chúa Giê-xu đã mang tội lỗi của tất cả mọi người, trong đó có quí vị và tôi, và đã chịu chết thế cho chúng ta trên cậy thập tự. Món quà quí báu nhất đã được Ðấng Tạo Hóa cống hiến cho con người lạc lõng.

Nhưng phần hai của câu Kinh Thánh Giăng 3:16 "Hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" đang nằm trong tay của quí vị. Chính quí vị có thể làm cho phần hai của câu Kinh Thánh nầy thành sự thật cho chính mình bằng cách tin nhận Chúa Giê-xu, mời Ngài bước vào làm chủ cuộc đời quí vị. Quí vị chắc chắn sẽ không bị hư mất trong hỏa ngục sau nầy mà sẽ được sự sống đời đời ngay bây giờ.

Mục Sư Nguyễn Bá Quang