![]()
của Hoàng Bá
Ánh mặt trời gay gắt chiếu qua khung cửa sổ của chiếc máy bay rọi thẳng vào chỗ ngồi làm Lan tỉnh dậy. Thì ra Lan đã ngủ một giấc khá dài kể từ khi máy bay rời khỏi không phận Tampa, Florida. Lơ đãng nhìn ra ngoài, Lan thấy dường như máy bay đã gần đến địa phận Houston, Texas. Mặt trời vẫn còn cao. Nghiêng mình nhìn ra xa, Lan thấy những dãi mây trắng cuối chân trời tạo thành một cảnh vật quen thuộc. Lan có cảm tưởng như mình đang đứng trên một đỉnh núi nhìn về phía đầu làng cũ ở quê hương. Cũng có những lùm cây, cũng có những khu nhà khói lam chiều lên nghi ngút. Con đường làng chạy từ đông sang tây ngoằn ngoèo, và đậm nét hơn hết là một con sông dài chiếm gần hết khung trời.
Lan tự hỏi những dãi mây dường như bất động và cảnh vật do mây vô tình tạo ra hay là sự tưởng tượng của chính mình.
Lan thấy chiếc cánh máy bay lấm thấm ướt. Mặt trời dần dần hạ thấp. Rồi một đám mây đen thật lớn bỗng kéo tới che khuất hẳn mặt trời. Trời bên ngoài tối sầm lại, và từ dưới đất, những thành phố nhỏ lên đèn hiện ra khá rõ rệt như những chùm kim cương. Từ xa, những chòm đèn vàng, đèn xanh và trắng trông giống như một chiếc thảm lớn nạm kim cương trải rộng giữa bầu trời đen thẫm.
Các tiếp viên phi hành lại bắt đầu đẩy xe mời hành khách giải khát. Lại thêm hai gói đậu phụng và một ly nước ngọt hoặc cà phê cố hữu. Lan bật chiếc khay trước mặt xuống và bấm đèn cá nhân lên ngồi chờ một ly cà phê cho tỉnh ngủ. Trong khi chờ đợi, Lan móc ví lấy ra chiếc ảnh của hai đứa cháu ngoại. Hai đứa miệng cười toe toét hết sức dễ thương. Con Linda bốn tuổi, thằng em nó là Joseph hai tuổi rưỡi đứng bên cạnh mẹ cười một cách tự nhiên trước cổng nhà thờ St. Pete trong ngày lễ Cung Hiến Thánh Ðường mới hai tuần trước. Lan mỉm cười khi nghĩ mình nay đã làm đến chức bà ngoại! Lúc còn nhỏ, hình ảnh bà ngoại đối với Lan phải là một bà cụ già tóc bạc, đi hơi khòm lưng, và mỗi lần gặp cháu ngoại là khóc và dúi vào túi cháu một chiếc kẹo. Lan năm nay chưa đầy năm mươi, nhưng đã làm bà ngoại của hai đứa cháu rồi! Nhìn gương mặt nghiêm nghị của chính mình đứng giữa nụ cười thật tươi của hai đứa cháu ngoại, Lan thu lại nụ cười. Kỷ niệm thoáng đến trong tâm trí Lan như một cuốn phim buồn...
Lan lớn lên tại Mỹ Tho, con của một bà giáo dạy Pháp văn ở trường trung học. Ðược nuông chiều từ nhỏ vì cha Lan mất sớm. Lan không hề biết mặt cha dù là qua một chiếc ảnh cũ kỹ nào đó. Mẹ Lan là bà giáo Hường cho biết thời trước ít khi chụp hình và Lan tin như vậy. Mẹ Lan là người ít nói, đặc biệt là không nói gì nhiều về người cha của Lan. Lan chỉ biết cha của mình tên là Phong và đã chết sớm, lúc mẹ mang thai Lan chưa đầy bốn tháng. Mẹ Lan ở vậy đi dạy học nuôi con. Lan không biết mẹ Lan học tiếng Pháp ở đâu mà nói tiếng Pháp như "đầm", mãi cho đến khi về sau có một người bà con xa nói cho biết mẹ Lan ngày xưa đã từng du học tại Pháp.
Sau khi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp ở Mỹ Tho, Lan được mẹ đưa lên Sàigòn theo học tại trường Gia Long. Bà giáo Hường đích thân dẫn con gái đi Sàigòn và gởi Lan ở trọ tại nhà của ông bà Tuấn ở đường Yên Ðỗ. Bà Tuấn là bạn thân của mẹ Lan và cũng là giáo sư Pháp văn tại trường Gia Long. Ở trường, học sinh gọi bà là cô Hoa.
Buổi chiều trước ngày trở về Mỹ Tho, bà giáo Hường dẫn Lan đi ăn tối ở nhà hàng Ðồng Khánh Chợ Lớn. Lan có linh tính dường như mẹ Lan muốn nói một chuyện gì đó rất quan trọng với mình nên chọn đi ăn tại một tiệm Tàu thật xa và kín đáo. Ðúng như vậy, bà giáo Hường đã đặt chỗ trước trong một căn phòng hẹp của tiệm ăn sang trọng nầy. Chỉ cho hai mẹ con mà thôi nhưng chiếm cả một chiếc bàn tròn thường dành cho tám người ăn. Ðây cũng là lần đầu tiên Lan bước chân vào một tiệm ăn lớn như vậy. Tối hôm đó dường như có hai đám cưới, nên khách vô ra nượp nượp.
Sau bữa ăn rất ngon và đang ngồi chờ đồ tráng miệng, thì bà giáo Hường rút trong ví ra một chiếc ảnh đen trắng cũ kỹ đưa cho Lan xem. Bức ảnh chụp một đôi vợ chồng còn trẻ. Nhìn thoáng qua, Lan biết ngay người đàn bà là mẹ Lan, còn người đàn ông thì lần đầu tiên Lan mới biết mặt, nhưng chắc chắn đây phải là cha của Lan. Ông ta mặc chiếc áo veston màu đen có sọc trắng nhỏ và thắt nơ. Mái tóc bồng bềnh, cặp mắt tình tứ, và miệng cười rất tươi. Mẹ Lan thì nét mặt cũng tươi nhưng không cười.
Bà giáo Hường lên tiếng trước: "Hôm nay con đã lớn. Má nghĩ đã đến lúc má phải nói hết mọi chuyện cho con biết về ba của con. Ba của con chưa chết lúc con còn nhỏ đâu. Má xin lỗi đã nói dối với con điều đó. Thật ra thì ba má đã ly dị từ lâu và ba con hiện nay vẫn còn sống bên Pháp, nghe đâu đã được ba đứa con với người vợ sau và còn nuôi thêm một đứa con riêng Pháp lai của người vợ đầm trước nữa. Nhưng sở dĩ má nói với con rằng ba con đã chết lúc con còn trong bụng mẹ mới bốn tháng vì đó là lúc ba con bỏ má để theo những người đàn bà kia."
Lan ngồi yên. Cảm nghĩ đầu tiên không phải là ngạc nhiên nhưng buồn thấm thía. Lan cúi đầu không khóc nhưng cặp mắt đã bắt đầu ướt. Mấy phút im lặng trôi qua dài như mấy thế kỷ. Ngước mắt nhìn mẹ, Lan thấy vài giọt nước mắt bắt đầu chảy xuống trên đôi gò má hóp của mẹ. Giọng nói trầm buồn của bà giáo Hường nhỏ đủ vừa cho Lan nghe
Hường đến Pháp thì đã thấy Phong đứng chờ ở phi trường Orly. Hường biết ngay đó là Phong vì trước khi đi, ba má Hường đã cho Hường xem bức ảnh của anh chàng sinh viên mà ông bà muốn chọn làm rể theo ý của ông bà nội Hường. Mặc dù e thẹn và ngại ngùng, nhưng Hường lấy can đảm gật đầu chào. Phong tiến tới nghiêng người một cách hết sức lịch sự: "Chào cô Hường. Chắc đi máy bay lâu, cô Hường mệt lắm?" Hường lí nhí không trả lời nên câu. Phong giành lấy giỏ hành lý trong tay Hường và hỏi: "Còn bao nhiêu chiếc va-li nữa cô Hường?" Hường nhỏ nhẹ trả lời: "Dạ thưa anh, em chỉ đem theo một chiếc va-li lớn và một thùng đồ ăn quê hương để biếu cho bà con mà thôi!" Phong một tay cầm chiếc giỏ, một tay chỉ về phía trước và nói: "Khu lãnh hành lý ở phía trước kia!"
Sau khi lãnh hàng lý xong, Hường theo Phong ra ngoài phi trường. Trời lất phất mưa. Phong ngoắt tay và một chiếc taxi chạy tới. Ðể chiếc va-li ở một bên ghế sau, Phong mời Hường vào. Phong đóng nhẹ cửa xe và lên ngồi phía trước với người tài xế. Hường nghĩ thầm: "Anh chàng nầy thật ý tứ quá!" Chiếc xe vừa chạy ra khỏi phi trường thì trời đổ mưa nặng hạt. Qua một vài cánh đồng trông không khác gì ở vùng lục tỉnh, thành phố Paris hiện ra từ đàng xa. Lòng Hường rộn lên một niềm vui và suy nghĩ trong trí: "Mấy con nhỏ bạn biết mình du học Pháp chắc là chúng nó ganh lắm!"
Phong đưa Hường về nhà của cô dượng Hường là ông bà Fleuret. Cô của Hường lấy chồng người Pháp lúc ở Sàigòn. Ông ta làm đại lý xe Renault ở Sàigòn khá lâu. Hai ông bà về Pháp lúc Hường vừa mới đậu bằng trung học đệ nhất cấp. Cũng nhờ ông dượng người Pháp nầy mà Hường thực tập tiếng Pháp một cách dễ dàng và đứng đầu lớp về môn Pháp văn. Qua sự sắp đặt của ông bà nội và gia đình cô dượng Fleuret mà Hường được gởi đi Pháp du học. Mọi sự đã tính toán xong, Lan sẽ ở trọ trong nhà của cô dượng Fleuret một thời gian cho quen, và sau đó sẽ làm vợ của Phong, con trai của một gia đình giàu có ở Bạc Liêu, đã đi du học từ lúc vừa xong tiểu học.
Sau một năm, Hường và Phong làm lễ cưới, một đám cưới thật tưng bừng. Ðông bạn bè và sinh viên đến dự. Lần đầu tiên mà Hường thấy đám cưới đãi nhiều rượu mạnh và champagne như vậy. Các bạn bè của Phong nhảy nhót cho đến gần sáng. Hường cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Tương lai hết sức bảo đảm nhất là vài năm nữa, Phong tốt nghiệp kỹ sư cầu cống.
Nhưng hạnh phúc không kéo dài quá một năm khi Hường khám phá ra rằng Phong là một người nghiện rượu. Hường hết lời khuyên lơn nhưng Phong vẫn chứng nào tật nấy. Những lần Phong về nhà khuya nói rằng phải vào thư viện học bài, thật ra là la cà ở các quán rượu ở khu Latin. Và sau cùng là một tin sét đánh ngang tai: Phong đang sống lén lút với một người vợ Pháp và đã có một đứa con trai năm tuổi!
Dù học dở dang và đang mang thai được bốn tháng, nhưng Hường nhất định về nước, mặc cho Phong xin lỗi và thề thốt đủ lời là sẽ bỏ cô vợ đầm mà Phong nói rằng chỉ sống chung nhưng không có hôn thú. Hường dọn về nhà ông bà Fleuret. Vào những ngày trước khi ký giấy tờ ly dị, Phong có vẻ ăn năn, nhưng Hường vẫn cương quyết không chịu! Như một con chim đã bị thương, Hường không còn muốn nghe những lời đường mật của Phong nữa. Buổi sáng mùa Ðông năm ấy ra phi trường, Phong có đến nhà ông bà Fleuret để xin tiễn chân nhưng Hường nhất định không chịu gặp mặt. Phong lủi thủi ra về.
Trời Paris lất phất mưa trên đường ra phi trường Orly. Những giọt mưa đối với Hường lần nầy là những giọt nước mắt mà Hường đang chôn kín trong lòng. Hình ảnh các tòa nhà cao của Paris không còn hấp dẫn, dòng sông Seine hết sức lạnh lùng. Paris không phải là kinh đô ánh sáng, nhưng là một kỷ niệm đen tối nhất trong đời Hường. Hường về Sàigòn như một người đã đánh mất vĩnh viễn hạnh phúc và niềm vui
Về nước, Hường không trở lại Long Xuyên nữa vì không muốn làm cho ông bà nội và ba má của Hường bẽ mặt với bà con láng giềng. Xin được một chân dạy Pháp văn cho một trường tư, Hường thuê một căn nhà nhỏ ở Phú nhuận, ở chung với một người bạn gái mới quen dạy sử địa cùng trường. Năm tháng sau, Hường sinh đứa con gái đầu lòng đặt tên là Lan. Ðây chỉ là tên của người bạn gái đặt cho đứa con của Hường, chứ không dính dáng gì đến tên Phong mà Hường không bao giờ muốn nhắc đến nữa.
Với số lương nhà giáo, Hường cố gắng lắm mới thuê được một bà giúp việc và giữ con cho Hường đi dạy trở lại và ghi tên học tại Trường Văn Khoa Sàigòn, ban Cử nhân Văn chương Pháp. Thỉnh thoảng cũng nhờ bà nội Hường gởi tiền giúp vì ông nội Hường là một điền chủ tại Long Xuyên. Hường không hề hay biết gì cả cho đến mãi về sau mới khám phá ra đây là tiền của Phong gởi về nhờ bà nội Hường bí mật giúp mẹ con Hường.
Hai năm sau, Hường đậu Cử nhân Văn chương Pháp và đổi về làm giáo sư thực thụ ngành Pháp văn của trường trung học công lập Mỹ Tho. Nhưng cũng trong những ngày vừa đi học vừa đi dạy, Hường có dịp làm quen với một cô bạn trong trường đại học Sàigòn là cô Thúy. Cô Thúy lúc ấy đang phụ trách một lớp nghiên cứu Kinh Thánh của sinh viên Tin Lành. Qua đời sống của Thúy và lời làm chứng rất chân thành của Thúy mà Hường nghe được ơn cứu rỗi của Chúa Giê-xu. Hường bắt đầu tham dự lớp học Kinh Thánh trong khu cư xá nữ sinh viên, ban đầu chỉ tìm hiểu nhưng về sau Hường đã quyết định tin Chúa. Những buổi sinh hoạt chung của Ðoàn Sinh Viên Tin Lành Sàigòn tại trụ sở ở số 39 Nguyễn Duy Dương, Chợ Lớn đã mang lại niềm vui cho Hường, niềm vui thần thánh, niềm vui của sự cứu rỗi, niềm vui đã làm cho những nụ cười bắt đầu nở lại trên môi Hường.
Khi đổi về Mỹ Tho, Hường được Thúy giới thiệu với một nữ giáo sư khác cũng trong tổ chức Sinh viên Tin Lành. Hường lớn lên trong công tác phục vụ Chúa tại nhà thờ cũng như phụ giúp việc hướng dẫn các em học sinh trung học tin Chúa. Con gái của Hường chẳng những lớn lên trong tình thương của mẹ mà còn trong tình thương của Chúa Giê-xu qua những người bạn cùng đức tin trong trường học và trong nhà thờ
Bà giáo Hường kể đến đó thì mắt Lan đã đẫm lệ. Nhìn lại bức hình cũ mà mẹ cho xem, Lan thấy mình rất giống cha. Cũng cái sống mũi dọc dừa đó, cũng nụ cười tươi đó. Tâm hồn Lan băn khoăn không biết mình giống cha có làm cho mẹ buồn hơn không? Lan buột miệng hỏi mẹ: "Má ơi! Giờ nầy má còn giận ba con không?" Bà giáo Hường không trả lời ngay. Bà ngồi yên một lúc và nói: "Chúa không cho phép má giận ba của con nữa, nhưng nỗi buồn không bao giờ mất đi!"
Một hồi lâu, bỗng bà giáo Hường quay lại hỏi Lan: "Con có muốn biết địa chỉ của ba con ở bên Pháp để liên lạc không? Má sẽ hỏi bà cô Fleuret cho." Ðến lượt Lan ngồi im không trả lời. Ðể cho ba Lan vui sống với gia đình mới, với bốn đứa con, hay muốn nhắc lại một lỗi lầm đau thương của ba Lan?
Hai mẹ con Lan ra khỏi hiệu ăn thì trời đã tối hẳn. Vừa đi vừa nhìn lên trời cao, Lan nghĩ có lẽ bên Pháp giờ nầy trời còn nắng. Trên trời cao kia, nắng vẫn còn . (Còn tiếp).
HOÀNG BÁ