THONGD.JPG (18112 bytes)

Phục Sinh Vùng Hoang Ðịa

Ê-sai 43:15-20; 44:3

"Ta sẽ vạch một con đường trong đồng vắng, và khiến những sông chảy trong nơi sa-mạc" Êsai 43:19b

Hoang địa hay sa mạc là những vùng đất khô cằn, ít mưa, thiếu nước, chiếm khoảng 15% diện tích các lục địa. Có những sa mạc là những bãi cát mênh mông hay những vùng đồi trọc trùng điệp khô khan. Sa mạc lớn nhất thế giới là sa mạc Sahara ở Bắc Phi trải rộng hơn 9 triệu cây số vuông. Trung Ðông có sa mạc Ả Rập ở bán đảo Si-nai, Trung hoa và Mông cổ có sa mạc Gobi. Ở Bắc Mỹ sa mạc chiếm khoảng 1.3 triệu cây số vuông. Khí hậu sa mạc khắc nghiệt, thường khô và nóng vào ban ngày, nhưng ban đêm trời lạnh có thể đến độ băng giá. Vì thiếu yếu tố chính bảo tồn sự sống là nước cho nên sa mạc ít muông thú, chỉ có những loài bò sát và côn trùng: rùa, kỳ đà, rắn rết, bọ cạp như Môi-se đã mô tả hết sức linh động vùng sa mạc tuyển dân phải vượt qua trong sách Phục Truyền 8:15, "Ấy là Ngài đã dẫn ngươi đi ngang qua sa mạc mênh mông gớm ghiếc này, đầy những rắn lửa, bò cạp, đất khô khan, chẳng có nước..."

Một số các loài thú lớn như sư tử, tê giác...chỉ sống ở những vùng ven biên sa mạc.

Trong sa mạc thực vật khá hiếm và cây cối phải có cấu tạo đặc biệt để tồn tại, như bộ rễ có khả năng đâm thẳng xuống đất rất sâu, có khi đến 12 mét để kiếm nước. Phần lớn lá các loài thảo mộc sống trong sa mạc thường nhỏ và dầy hoặc có biến thể là gai để chống lại sự bốc hơi. Nói tóm lại, khô hạn là đặc điểm nổi bật của sa mạc, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống động vật cũng như thảo mộc.

Tuy nhiên khi Chúa dùng tiên tri Ê-sai công bố một việc phi thường Ngài sắp làm như được ký thuật trong Ê-sai 43:19, Chúa muốn nói đến điều gì? "Nầy, Ta sắp làm một việc mới, việc này sẽ hiện ra ngay; các ngươi há chẳng biết sao? Ấy là ta sẽ vạch một con đường trong đồng vắng và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc." Hai hình ảnh tượng trưng "việc mới" Chúa làm là con đường và dòng sông là hai điều thiết yếu cho công cuộc phục sinh vùng đất chết. Có những vùng sa mạc là những đồng hoang mênh mông hay những đồi cát trùng trùng điệp điệp. Tôi có dịp đến đồi cát Mũi Né ở Phan Thiết, nơi được mệnh danh là ‘thánh địa" của các nhiếp ảnh gia Việt-nam vì với khả năng chuyển dịch dưới tác động của gió, hình dáng các đồi cát biến thiên, thay đổi không ngừng đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của những người yêu ảnh nghệ thuật. Một đặc điểm khác cũng liên quan đến tính chất biến dịch trên đó là những dấu chân trên đồi cát không tồn tại lâu. Chỉ trong khoảnh khắc, tất cả các dấu vết in trên đồi cát đều bị gió xóa sạch. Nếu không để ý phương hướng, chúng ta thường không thể trở lại con đường vừa đi qua.

Tại đây tiên tri Ê-sai bảo rằng Chúa sẽ làm một việc mới, đó là Ngài sẽ "vạch một con đường trong sa mạc," một việc bất khả trong bối cảnh đương thời. Ði lạc trong sa mạc mà tìm được dấu vết con người, dấu vết của mọät đoàn lữ hành từng đi qua là có hy vọng sống. Chỉ trong cơn nguy khốn đó trong sa mạc, người ta mới có thể thấy được giá trị của dấu vết chân người, một lối mòn, một con đường. Nhưng có phải Chúa thực sự chỉ muốn nói đến tác động của Ngài trong cõi thiên nhiên để thay đổi mặt địa cầu? Hay Chúa muốn nói đến một điều gì khác?

 

Sa Mạc Tâm Linh

Trong Phúc âm Giăng, khi Chúa Giê-xu nói với người Do Thái rằng: "Ai ăn thịt ta và uống huyết ta thì được sự sống đời đời..." họ đã nổi giận và cả đến các môn đệ Chúa cũng than phiền, "Lời này thật khó, ai nghe được?" Nhưng Chúa Giê-xu đã kiên nhẫn giải thích: "Ấy là Thần Linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống" (Giăng 6:63). Trong Ê-sai 43 Chúa không chỉ nói đến con đường trong đồng vắng và con sông trong sa mạc theo nghĩa đen, vì khi đối chiếu với Ê-sai 44:3 hiển nhiên Chúa đã ám chỉ một điều quan trọng hơn con đường hay con sông trong sa mạc rất nhiều, "vì ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi..." Con đường trong đồng vắng và con sông trong sa mạc chỉ là những hình ảnh minh giải giúp con dân Chúa có thể phần nào hiểu được "việc mới" Chúa sẽ làm là "đổ Thần Chúa trên dòng dõi tuyển dân" và việc mới này sẽ giống như con đường được khai mở trong hoang địa và dòng sông khởi sự tuôn chảy vào sa mạc.

Sa mạc trên địa cầu là vùng đất chết, vùng đất hoang liêu cô tịch, là biểu tượng cho tình trạng tâm linh của con người bị cắt đứt với nguồn sống khiến cho mối tương giao với Ðấng Tạo Hoá đứt đoạn. Từ đó cuộc sống không còn là sinh thú mà chỉ còn là những ngày tháng kéo lê trong cô đơn. Chính cái khô khan hoang vắng của sa mạc là đặc điểm của mối tương giao đổ vỡ. Ðổ vỡ tương giao với con người làm cho cuộc sống cay đắng, chán chường. Ðổ vỡ tương giao với Ðức Chúa Trời làm cho con người sống trong sợ hãi, bất an. Tuy nhiên cái ghê rợn của sa mạc tâm linh mô tả trong Ê-sai 43 đã được hóa giải bằng một hành động yêu thương đầy sáng tạo của Ðức Chúa Trời trong một lời hứa chắc nịch: "Nầy, ta sắp làm một việc mới, việc này sẽ hiện ra ngay; các ngươi há chẳng biết sao? Ấy là ta sẽ vạch một con đường trong đồng vắng và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc. Những thú đồng với muông rừng và chim đà sẽ tôn vinh ta; vì ta đặt các dòng nước trong đồng vắng, và các sông trong sa mạc, đặng cho dân ta đã chọn được uống."

Trong mối tương quan với Ðức Chúa Trời đặt trên giao ước đã được kết lập từ thời các tổ phụ, tuyển dân đã nhiều lần thất tín, bất trung với Chúa, sa vào tội lỗi, nhất là tội thờ hình tượng, vì thế Ðức Chúa Trời đã phải nhiều lần dùng roi răn phạt sửa trị. Tuy nhiên, cũng có khi Ngài bỏ mặc họ tẻ tách đi theo đường riêng khiến cho mối tương giao với Ngài trở nên khô hạn, tâm linh tuyển dân trở thành sa mạc. Nếu sa mạc trên địa cầu đã là vùng đất đáng sợ vì tính chất khô cằn hoang vắng của nó, thì sa mạc tâm linh còn kinh khủng, đáng sợ hơn vạn bội. Tình trạng khô hạn tâm linh cũng khiến con dân Chúa u mê, mất định hướng, như đi lạc trong sa mạc. Một khi đã lạc đường và kiệt quệ trong sa mạc nếu không được giải cứu, nếu không có nước, nếu không tìm được đường đi thì số phận hư vong không thể nào tránh được. Chính trong bối cảnh đó, Chúa tuyên bố rằng Ngài sẽ làm một việc mới, nghĩa là một việc chưa bao giờ có trong lịch sử, chưa hề có trong kinh nghiệm bất cứ con người nào. Qua lời tuyên bố này Chúa cũng đồng thời nhắc lại cho tuyển dân Ngài là Ðấng Sáng Tạo cho nên không có một tình huống nào đối với Ngài là nan giải hay bế tắc.

Trong cuộc đời theo Chúa có những giai đoạn chúng ta cảm thấy lòng hăng hái nhiệt thành suy giảm. Có lẽ chúng ta vẫn tiếp tục thờ phượng Chúa, vẫn tiếp tục giữ một số chức vụ, vẫn duy trì một số các bổn phận trong nhà thờ, nhưng sâu kín trong lòng chúng ta cảm nhận có một cái gì thất bại, không hẳn là đổ vỡ hay hư hỏng, nhưng có một cái gì khô cằn, héo úa làm chúng ta rơi vào trong một nỗi buồn mênh mang, nỗi buồn khiến cho chúng ta mệt mỏi rã rời. Từ đó, những ý tưởng tiêu cực xuất hiện khiến chúng ta lo nghĩ quẩn quanh mất hẳn hướng đi như đang lạc bước trong sa mạc. Nhìn vào cuộc sống trong những tháng ngày đó chúng ta thấy tình trạng khô cằn, chai lì, không kết quả là những đặc điểm nổi bật nhất. Ðây chính là tình trạng của sa mạc tâm linh.

Trong phần đầu của Ê-sai 43, có hai điều Chúa nhấn mạnh để chuẩn bị đức tin cho tuyển dân đó là, trước hết, Chúa khẳng định giữa Ngài với tuyển dân có nhiều mối tương quan, trong đó mối tương quan được nhấn mạnh nhất là Tạo Hoá với tạo vật, "Bây giờ hỡi Gia-cốp! Ðức Giê-hô-va là Ðấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Ðừng sợ vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta...Ta, Ðức Giê-hô-va, là Ðấng Thánh của các ngươi, Ðấng tạo thành Y-sơ-ra-ên, tức Vua các ngươi..." (c.1,15). Chúa muốn nhắc tuyển dân nhớ rằng vì Ngài là Tạo Hoá cho nên không có việc gì là bất khả, và đối với Ngài, mọi tình huống bế tắc không hiện hữu. Ðiểm thứ hai, khi Chúa nhắc lại những việc quyền năng Ngài đã thi thố trong lịch sử tuyển dân khi giải phóng họ ra khỏi Ai-cập, trong một tình huống tiến thoái lưỡng nan, Chúa đã rẽ nước Hồng Hải cho tuyển dân vượt qua, nhưng khi đạo quân Ai-cập đuổi theo, Ðức Chúa Trời đã khiến biển lấp nước trở lại, chôn vùi tất cả. Ê-sai ghi lại như sau: "Ðức Giê-hô-va là Ðấng mở lối trong biển và đường vượt qua dòng nước mạnh, khiến xe, ngựa, cơ binh và lính mạnh nhóm lại - thảy đều nằm cả tại đó, sẽ không dậy nữa, bị ngột và tắt đi như tim đèn..." Nhưng ngay sau đó Chúa đã bảo "đừng nhớ lại sự đã qua", dù là những việc lớn lao như thế, vì Ngài sẽ làm một việc mới, Chúa sẽ "vạch một con đường trong đồng vắng và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc." Ðây chính là một Ðức Chúa Trời mà chúng ta cần kinh nghiệm.

Sau một thời gian theo Chúa, khi tất cả những sôi nổi của buổi ban đầu đã lắng dịu, người tin Chúa có khuynh hướng bám lấy quá khứ, níu kéo quá khứ, quên hiện tại và chỉ muốn sống trong quá khứ của những ngày đầu mới gặp Chúa, của thời thơ ấu thuộc linh. Ðây là thái độ cần cảnh giác. Thật ra những kinh nghiệm quá khứ của chúng ta với Chúa rất cần thiết cho việc xây dựng đức tin, nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu của hành trình thuộc linh. Khi đã trưởng thành, chúng ta không cần phải tùy thuộc vào những kinh nghiệm quá khứ đó để sống, để phục vụ, mà chúng ta cần mối tương giao tươi mới với Chúa mỗi ngày với những kinh nghiệm mới về tình thương, ân sủng, sự thương xót và lòng thành tín của Chúa, "mỗi buổi sáng lại mới luôn, sự thành tín của Ngài lớn lắm..."

Nhiều tín hữu hoặc những người hầu việc Chúa hôm nay khi đang sống trong những tháng ngày khô hạn, không kết quả. Cuộc sống vỏn vẹn quẩn quanh trong những toan tính cho cuộc sống vật chất trần gian. Ðời sống tâm linh xoay quanh những thói quen tôn giáo nhạt nhẽo. Việc đi nhà thờ trở thành những bổn phận miễn cưỡng chỉ để không thất lễ với Chúa, để được Ngài ban phước và tiếp tục được các tín hữu khác chấp nhận. Khi sống trong thời gian khô hạn tâm linh, Cơ Ðốc Nhân thường không muốn phiêu lưu mà chỉ muốn cố duy trì những việc phải làm một cách máy móc, vì thế cuộc sống vừa thiếu sinh khí vừa mất đi những cơ hội kinh nghiệm Chúa trong những việc phi thường. Qua Ê-sai, Chúa đã bảo con dân Ngài đừng nhớ đến những việc cũ nữa vì Ngài không bao giờ muốn họ nương dựa vào điều gì khác hơn là vào mối tương giao sống động với Ngài, vì chỉ như thế Chúa mới có thể khởi sự làm "những việc mới". Ðây chính là cái hào hứng của cuộc sống theo Chúa.

 

Con Ðường Trong Hoang Ðịa

Việc mới Chúa hứa sẽ làm là "vạch một con đường trong đồng vắng". Như chúng ta đã biết, đây là việc làm bất khả đối với con người, ít ra là trong thời của Ê-sai, vì tất cả mọi dấu vết trong sa mạc, đều bị cát xoá sạch cho nên trong sa mạc không thể có đến một lối mòn chứ đừng nói đến một con đường! Lạc bước trong sa mạc mà tìm thấy một con đường là biết mình sẽ sống. Ðây chính là ý nghĩa điều Chúa muốn truyền đạt cho tuyển dân. Trong cái sa mạc tâm linh ghê rợn của con người, Ðức Chúa Trời sẽ vạch một con đường. Vấn đề còn lại là những người lạc bước phải tin cậy bước đi theo con đường đó. Nhìn thấy con đường vẫn không ích lợi gì nếu con người đi trong sa mạc không chịu quyết định hành động. Một khi đã đi, yếu tố tiếp theo là phải kiên trì đi cho đến đích. Có người chỉ bằng lòng đi một quãng nhưng rồi mòn mỏi và lại tẻ bước vào sa mạc, hoặc nao núng trở về. Trong Thánh KinhTân Ước, Chúa Giê-xu công bố Ngài chính là "con đường, chân lý và sự sống" và không bởi Ngài, không ai đến được với Thượng Ðế.

Con đường trong sa mạc giúp người lữ hành trở lại được với buôn làng, tìm lại được xã hội loài người, nối lại tương giao với đồng loại, và như thế có nghĩa là thoát chết, cái chết trong đói khát, trong cô đơn tuyệt đối. Trong sa mạc tâm linh con đường Chúa tạo lập là con đường đưa chúng ta tìm đến với Chúa, nối lại tương giao đứt đoạn với Ðấng Tạo dựng nên mình. Những tháng ngày lưu lạc trong sa mạc tâm linh, chúng ta tự cách ly mình với các anh em khác mà nhiều khi không biết tại sao. Chúng ta không muốn tương giao, không muốn đến gần người khác, không muốn chia xẻ và cũng không có gì để chia xẻ. Những ngày ở trong sa mạc tâm linh người tín đồ không cầu nguyện, bỏ nhóm họp thờ phượng Chúa như Ê-sai nói đến trong câu 22, 23, "Song hỡi Gia-cốp, ngươi chẳng từng kêu cầu ta! Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi đã chán ta ! Ngươi chẳng dùng chiên làm của lễ thiêu dâng cho ta, chẳng dùng hy sinh tôn kính ta..." Trong sa mạc tâm linh, người tín đồ không chỉ mất hướng, không chỉ đi luẩn quẩn trong vùng đất khô cằn, hoang vắng mà trên bước đi lại đầy những "rắn lửa, bọ cạp..." đầy những hiểm nguy, vấp váp, tổn hại cho mình mà cũng tổn hại cho những người đồng hành nữa. Tìm được con đường trong sa mạc tâm linh là nối lại được tương giao với Chúa là Con Ðường, là tìm được sự sống.

Trong những ngày tâm linh khô hạn điều người tín đồ cần hơn hết là trở lại với Lời Chúa, tìm đến với Lời Chúa, là Con Ðường trong đồng vắng. Việc này xem ra đơn giản nhưng không dễ. Hầu như ai cũng ý thức phải đến với Lời Chúa, nhưng quyết định dành riêng một ngày, một buổi hay vài tiếng đồng hồ yên tĩnh đọc lời Chúa là điều không mấy người đủ quyết tâm thực hiện. Trong cuộc sống bận rộn, tôi thường phải quyết định dành riêng một ngày hay ít ra một buổi để chỉ đến với Lời Chúa, chỉ để đọc Lời Chúa với tấm lòng khao khát như một thửa ruộng khô cằn nứt nẻ chờ mưa! Tuy nhiên những ngày khô hạn trong đồng vắng tâm linh, con dân Chúa không chỉ cần tìm được con đường trở về nối lại tương giao với Chúa, mà thực sự còn cần một giòng suối mát để có đủ sức tiếp tục hành trình. Con đường cho thấy hướng đi, nhưng giòng suối ban sinh lực.

 

Giòng Sông Trong Sa Mạc

Việc mới Chúa hứa sẽ "làm ngay" không chỉ là vạch một con đường trong đồng vắng, nhưng còn là "khiến những sông chảy trong sa mạc". Hiển nhiên về bản chất, việc mới này là một phép lạ, nhưng là một phép lạ "tự nhiên" hơn hết. Khi có những giòng sông khởi nguyên và lưu chảy trong sa mạc, kết quả hiển nhiên hơn hết chúng ta chắc chắn sẽ thấy là gì? Sa mạc sẽ không còn là sa mạc nữa nhưng sẽ biến thành đồng nội, thành rừng cây, và như Ê-sai viết, "thú đồng, muông rừng, chim đà" và cả dân Chúa sẽ ca ngợi, tôn vinh Ngài (c.20). Sau khi dòng sông lưu chảy, bao nhiêu dấu vết của sa mạc sẽ dần dần bị xoá sạch đến nỗi người ta khó có thể nghĩ rằng nơi đây ngày xưa vốn là sa mạc! Tuy nhiên Ðức Chúa Trời không muốn chúng ta chỉ hiểu những "việc mới" này theo nghĩa đen khi Chúa diễn giải rằng Ngài sẽ "rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi..."(Ês. 44:3). Những dòng sông trong sa mạc đây chính là Thánh Linh Chúa hứa ban để đem lại một cuộc cách mạng tâm linh triệt để hơn hết. Tiên tri Giô-ên đã dùng cách diễn tả khác nhưng cũng nói lên cùng một ý, "Ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri; những người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao, các kẻ trai trẻ các ngươi sẽ xem sự hiện thấy" (Giô-ên 2:28).

Trong Lu-ca 11:1-13 khi dạy về sự cầu nguyện Chúa Giê-xu đã có một kết luận đầy ngạc nhiên, "Vậy nếu các ngươi là xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Ðức Thánh Linh cho người xin Ngài !" Chúa Giê-xu đã nhấn mạnh đến điều cần yếu nhất, nhu cầu quan trọng nhất cho một cuộc đời sung mãn không phải là cơm gạo, áo quần, nhưng là Ðức Thánh Linh. Trước khi đi con đường thương khó, từ giã các môn đệ, Chúa Giê-xu đã hứa ban Ðức Thánh Linh để ở với họ, ở trong họ đời đời để biến cải cuộc đời họ, để an ủi và hướng dẫn. Trong một kỳ lễ tại thành Giê-ru-sa-lem Chúa Giê-xu cũng đã tiết lộ chân lý mầu nhiệm này được Giăng ghi lại như sau: "Ngày sau cùng là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Ðức Chúa Giê-xu ở đó đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Ðức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy..." (Giăng 7:37-39). Một lần khác khi nói với một phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng Si-Kha, Chúa Giê-xu cũng đã dùng một hình ảnh tuyệt vời khi mô tả Ðức Thánh Linh được ban trong lòng người tin nhận Ngài, "Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi, nhưng uống nước ta sẽ cho thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời."

Hiển nhiên Ðức Thánh Linh được tượng trưng bằng những giòng sông trong sa mạc, là những suối nước chảy trong hoang địa, là những giòng suối không bao giờ cạn tắt đem lại sự sống, đem lại những biến động lớn lao, sâu xa cho vùng đất nó chảy qua. Cuộc đời những người tin Chúa thật phải là những cuọäc đời kinh nghiệm sự biến cải sâu xa này của Thánh Linh: từ một cuộc sống khô cằn không kết quả trở thành cuộc sống sung mãn của những "cây trồng bên dòng nước, luôn luôn xanh tươi, ra hoa trái theo thì tiết", "như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì mà cứ ra trái không dứt." (Thi-thiên 1:3; Giê-rê-mi 17:8). Thay cho những gai gốc của sa mạc, những độc vật của vùng đất chết: rắn, rết, bọ cạp... cuộc đời người có Thánh Linh của Ðức Chúa Trời là cuộc đời sung mãn của một khu vườn đầy bóng mát, với hoa thơm trái ngọt của Thánh Linh: yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:22). Cuộc đời người sống trong sự sung mãn của Thánh Linh sẽ trở thành bóng mát giữa sa mạc, thành trạm dừng chân cho nhiều lữ hành nhọc mệt, tương phản hẳn với cuộc sống khép kín, khô khan, cay đắng, đầy những lời than oán, tự cô lập, lánh xa người khác và cũng làm cho mọi người xa lánh.

Hôm nay lời hứa của Ðức Chúa Trời rằng Ngài sẽ làm một việc mới, "vạch một con đường trong đồng vắng và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc" đã được thực hiện từ ngày Ðức Thánh Linh giáng lâm. Từ đó đến nay, bao nhiêu cuộc đời đau buồn khô hạn như những vùng đất chết đã biến thành đồng nội, bao nhiêu cuộc đời vô ích chỉ sản sinh ra toàn gai gốc và độc vật đã trở thành vuờn cây trái khi họ tiếp nhận Chúa Giê-xu vào lòng để được ban Thánh Linh là giòng sông trường sinh tràn bờ, không bao giờ cạn tắt. Tuy nhiên trong số những người đã tiếp nhận Chúa Giê-xu cũng không thiếu những cuộc đời vốn là những khu vườn tươi tốt nhưng nay lại trở thành những cánh đồng hoang khô cằn nứt nẻ. Ðây là những người đã có giòng suối Thánh Linh tuôn chảy, nhưng nhiều năm tháng qua, đã đem những rác rưởi, những gạch đá của tội lỗi, tham dục, với những mê đắm cuộc đời chặn bít giòng sông sự sống, khiến cho dòng sông hầu như cạn tắt, khu vườn dần dần trở thành hoang địa.

Nếu chúng ta không dành mọi ưu tiên cho Lời Chúa tuôn chảy vào tâm hồn, vào đời sống, là chúng ta đang chặn bít giòng sông Thánh Linh. Nếu không dành thì giờ đọc Lời Chúa và khai thông mối tương giao với Chúa trong sự cầu nguyện, chúng ta đang chận bít giòng sông Thánh Linh. Nếu tiếp tục nuôi hận thù giận ghét, nếu không tha thứ là chúng ta đang làm nghẹt ngòi dòng sông Thánh Linh. Nếu tiếp tục sống đời buông thả, đưa vào đầu óc, vào tâm trí những hình ảnh tội lỗi, nếu tiếp tục lạm dụng thân thể là đền thờ Chúa, đưa vào thân thể những chất độc làm hao tổn sức khỏe, chúng ta đang sống cuộc sống xúc phạm Ðức Thánh Linh, làm buồn, làm khổ Ðức Thánh Linh, Ðấng ấn chứng, cư ngụ trong chúng ta,

là chúng ta đang chận bít chính nguồn sống tâm linh, chúng ta không thể sống cuộc đời hữu dụng cho Chúa.

Dòng sông Thánh Linh mà Chúa hứa ban trong cuộc đời bạn đang cuồn cuộn chảy, hay chỉ còn là những lạch nước đang cạn tắt? Xin hãy dừng lại, ăn năn, xin Chúa giúp bạn nạo vét những rác rến, gạch đá đang chặn bít giòng sông Thánh Linh, để nước sống và sức sống của Ngài, tức là Lời Chúa tuôn đổ vào cuộc sống bạn, tái tạo cánh đồng hoang của cuộc đời thành vườn địa đàng phước hạnh. Từ đó giòng sông Thánh Linh mới có thể khởi sự đưa bạn đi đến những nơi xa, phiêu lưu vào những miền đất lạ đầy kỳ thú, đầy hứng khởi của cuộc đời "bước đi theo Thánh Linh." Ðức Chúa Trời không bao giờ hứa suông, xin đừng coi nhẹ những lời hứa của Ngài. Ai coi nhẹ lời hứa của Ðức Chúa Trời sẽ bị Ngài coi nhẹ. Ðây là cách thức Ðức Chúa Trời phục sinh cánh đồng hoang khô cằn, chết chóc trong cuộc đời mỗi chúng ta khi Ngài "vạch con đường trong đồng vắng và khiến những sông tuôn chảy trong sa mạc." Không ai trong chúng ta lại không muốn cuộc đời mình trở thành một khu vườn tươi xanh, hay một cánh rừng tràn sức sống!

 

Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh