![]()
Xem Kinh Thánh Ru-tơ 1
"Xin đừng ép con phân rẽ mẹ Ðức Chúa Trời của mẹ cũng là Ðức Chúa Trời của con" (c.6)
Sách Ru-tơ là viên ngọc chói sáng trên cái phông đen tối của một thời đại nhiễu nhương hơn hết trong lịch sử Y-sơ-ra-ên thời đại Các Quan Xét (1380-1050 TC). Thời đại này là hậu quả của việc các chi tộc Y-sơ-ra-ên không vâng lời Ðức Chúa Trời, không đuổi dân bản địa khỏi xứ, trái lại còn kết sui gia và có những quan hệ mật thiết với dân ngoại, thậm chí tiêm nhiễm thói tục thờ hình tượng, tà thần của họ và phạm tội nặng nề với Ðức Chúa Trời (Quan Xét 3:5,6). Hậu quả không thể tránh là trong hơn ba trăm năm, tai họa dồn dập đổ xuống, những lời chúc dữ của Ðức Chúa Trời trở thành hiện thực và cả xứ lâm vào cảnh giặc giã liên miên, thiên tai không dứt (Các Quan Xét 2:10 tt). Trong bối cảnh đau thương đó, Kinh Thánh ghi lại một câu chuyện gây nhiều xúc động, mô tả những thảm họa xảy ra cho gia đình Na-ô-mi, chồng chết rồi con chết, sống góa bụa trong cảnh tha phương cầu thực nhưng đến cuối cùng là một kết thúc tốt đẹp. Ðây không phải là câu chuyện "mua vui" nhưng để con người có thể nhìn thấy chân dung Ðức Chúa Trời qua sự quan phòng kỳ diệu của Ngài trên cuộc đời những con người bình thường như thế nào. Nhân vật chính không phải là mẹ Na-ô-mi nhưng là nàng dâu Ru-tơ. Tuy nhiên Na-ô-mi đã trở thành cái nền thiết yếu cho mọi diễn tiến trong câu chuyện. Chúng ta sẽ đi tìm kho báu chôn giấu trong cái nền quí giá này là tấm lòng của một người mẹ đau khổ nhưng vẫn tin cậy Ðức Chúa Trời.
Phần đầu câu chuyện trong Ru-tơ chương một tóm tắt như sau. Trong đời các quan xét, một cơn đói kém vùng Giu-đa khiến cho gia đình Ê-li-mê-léc ở Bết-lê-hem quyết định ra đi sang Mô-áp sinh sống, nhưng chỉ được ít lâu Ê-li-mê-léc qua đời nơi đất lạ quê người, để lại vợ góa Na-ô-mi và hai con trai Mạc-lôn và Ki-li-ôn. Sau đó Mạc lôn lập gia đình với Ru-tơ và Ki-li-ôn lấy Ọt-ba, cả hai nàng dâu đều là người Mô-áp. Nhưng tai họa tiếp tục đổ xuống gia đình này khi cả hai con trai của Na-ô-mi đều chết, để lại vợ goá không con. Trong cảnh đau buồn và khốn quẫn, Na-ô-mi nghe nói Ðức Chúa Trời đã đoái thương và ban phước cho mùa màng ở quê nhà, bà quyết định trở về. Ðây không phải là một quyết định dễ dàng. Chuyến về của Na-ô-mi sẽ không giống với chuyến ra đi từ nhiều năm trước. Ngày xưa ra đi còn trẻ với đầy đủ chồng con, bây giờ trở về trong tuổi già cô độc với hai bàn tay trắng. Lý do mạnh mẽ hơn hết khiến Na-ô-mi quyết định trở về vì "nghe nói rằng Chúa Hằng Hữu đã đoái xem dân Ngài." Trong bi kịch của cuộc đời Na-ô-mi chúng ta sẽ chú ý đến ba khía cạnh sau: 1) Hoàn cảnh của Na-ô-mi; 2) Ðức tin Na-ô-mi và 3) Ảnh hưởng của Na-ô-mi.
Hoàn cảnh của Na-ô-mi mô tả trong câu 1-5 có thể tóm tắt bằng hai chữ: mất mát. Hầu như Na-ô-mi đã mất tất cả. Mất mát là một trong những kinh nghiệm đau buồn nhưng rất phổ biến. Có lẽ ít có ai chưa từng mất mát: mất xe, mất nhà, mất việc, mất tiền bạc, mất sức khoẻ, mất người thân yêu Có những mất mát vĩnh viễn, sâu đậm, có thể làm sụp đổ cả cuộc đời. Na-ô-mi đã mất những gì?
Sống trong thời Các Quan Xét, Na-ô-mi chia xẻ những cái mất mát chung của cả một dân tộc: mất cuộc sống thái bình, thịnh vượng. Chiến tranh, giặc giã là cái bóng đen to lớn che phủ trên cả một dân tộc không vâng lời Chúa. Từ khi lãnh tụ Giô-suê dẫn vào đất hứa, họ đã không quyết tâm trừ diệt những dân tộc bản thổ thờ hình tượng theo lệnh truyền của Chúa; họ đã chọn con đường hòa hoãn. Họ đã quan hệ, giao thiệp, thậm chí kết thông gia với dân bản xứ, dường như đó là con đường dễ dàng hơn, để có thì giờ trồng cây, xây nhà, chăn nuôi, tìm kiếm cuộc sống sung túc vật chất. Nhưng đến cuối cùng, chiến tranh cũng đã không tránh được, và những gì họ đã xây đắp trong nhiều năm phút chốc ra tro! Ðến cuối cùng thì những lời chúc dữ của Ðức Chúa Trời dành cho dân tộc bội nghịch đã ứng nghiệm đầy đủ. Thiên tai, hạn hán làm đất ruộng tiêu điều khiến cho nhiều người phải rời bỏ quê hương ra đi tha phương cầu thực, trong đó có gia đình Na-ô-mi.
Tuy nhiên những mất mát tài sản không thấm thía gì với những mất mát của Na-ô-mi trong những năm sống ở đất Mô-áp. Sau khi chồng qua đời, hai con là Mạc-lôn và Ki-li-ôn lấy vợ nhưng rồi cả hai cũng chết, để lại Na-ô-mi trơ trọi trong đất lạ quê người không chồng, không con, không cháu. Tất cả những mất mát kinh khủng này của Na-ô-mi hiển nhiên là do Ðức Chúa Trời trừng phạt theo như chính nhận định của bà, "nỗi sầu thảm của mẹ cay đắng muôn phần hơn của chúng con, vì tay của Chúa Hằng Hữu đã giơ ra hại mẹ Chúa Hằng Hữu đã giáng hoạ cho tôi, Ðấng Toàn Năng khiến tôi bị khốn khổ" (1:13b, 21b). Nhưng Chúa đã trừng phạt Na-ô-mi về tội gì? Quyết định ra khỏi đất hứa hiển nhiên là một quyết định sai lầm nghiêm trọng của gia đình Na-ô-mi. Ra khỏi miền đất Ðức Chúa Trời hứa ban phước, hứa bảo vệ, hứa dẫn dắt là quyết định xúc phạm đức thành tín của Ðức Chúa Trời. Ðó là lý do tại sao khi quản gia Ê-li-ê-se đề nghị đem Y-sác ra khỏi đất hứa, Áp-ra-ham đã dẫy nẩy lên, căn dặn viên quản gia, dù ở tình huống nào, không được đem con ông ra khỏi đất hứa (Sáng Thế Ký 24: 6,8).
Ngày nay có lẽ chúng ta không rời đất hứa bằng những bước chân âm thầm, nhưng chúng ta đã thực sự ra đi khi không còn ôm ấp trong lòng lời hứa của Ðức Chúa Trời. Chúng ta quan tâm đến những mục tiêu trần tục hơn là những phần thưởng thuộc linh. Chúng ta ra khỏi giao ước của Ðức Chúa Trời khi sẵn sàng hy sinh giới răn, luật pháp, nguyên tắc của Chúa để kết ước với thế gian. Chúng ta ra khỏi đất hứa khi ra khỏi những giới hạn Ðức Chúa Trời cho phép. Chúng ta vẫn ở trong Hội Thánh nhưng có thể từ lâu lắm trong lòng chúng ta đã âm thầm ra đi. Chúng ta sống trong nhà Chúa như một người ngoài cuộc vẫn "tin Chúa", nhưng ngày càng mơ ước trần gian nhiều hơn! Vẫn còn bạn bè trong Chúa, nhưng không thân thiết nữa. Vẫn hầu việc Chúa, nhưng tất cả chỉ vì chức vụ và bổn phận trong khi lòng yêu mến Chúa đang lạnh dần!
Cũng có người đã ra khỏi đất hứa khi sống bên lề Hội thánh trong nhiều chục năm, khi nhìn lại chỉ thấy toàn cay đắng, có lẽ chồng con vẫn còn, nhưng đức tin đã chết, con cháu rất nhiều, nhưng không đứa nào giữ lòng trung tín với Chúa, nhà cửa tài nguyên, công danh sự nghiệp trong đời rất lớn, nhưng đời sống tâm linh khánh tận.
Trở lại với bà góa Na-ô-mi trong quyết định quay về đất hứa, chúng ta có nhận xét này. Hiển nhiên, trong cảnh cùng quẫn, dù đang sống trên đất Mô-áp, nhưng bà vẫn hàng ngày theo dõi tin nhà "nghe nói Chúa Hằng Hữu đoái xem dân Ngài và ban lương thực " Ðộng cơ nào khiến bà quan tâm đến tình hình đất hứa? Hiển nhiên chính cuộc sống tận cùng của bi thảm đã khiến lòng Na-ô-mi hướng về cố hương, và đức tin nơi Ðức Chúa Trời được nhen lại trong đống đổ nát của tâm hồn. Na-ô-mi quyết định trở về. Giả sử trong những ngày đó, Na-ô-mi vẫn còn chồng con, và cuộc sống phong lưu thịnh vượng, khi cuộc sống đã đâm rễ sâu trong trong đất Mô-áp, có lẽ còn lâu Na-ô-mi mới nghĩ đến việc trở về. Khi tất cả mất hết, khi tất cả những chỗ dựa của Na-ô-mi không còn nữa thì bà quay về nơi nương thân duy nhất còn lại là Ðức Chúa Trời!
Như vậy đức tin của Na-ô-mi đã được thể hiện như thế nào, nhất là khi chúng ta đã thấy bà nhiều lần oán trách Chúa? Nói với hai con dâu Ru-tơ và Ọt-ba, Na-ô-mi đã thốt lên những lời này, "không, hỡi các con, nỗi sầu thảm của mẹ cay đắng muôn phần hơn của chúng con, vì tay của Chúa Hằng Hữu đã giơ ra hại mẹ"(c. 13b). Nói với dân làng Bết-lê-hem ra đón, Na-ô-mi cũng đã than thở bằng cùng một giọng điệu đó, "Chớ gọi tôi là Na-ô-mi, hãy gọi là Ma-ra, vì Ðấng Toàn Năng đã đãi tôi cách cay đắng lắm. Tôi đi ra được đầy dẫy nhưng Chúa Hằng Hữu dắt tôi về tay không. Chúa hằng Hữu đã giáng họa cho tôi, và Ðấng Toàn Năng khiến tôi bị khốn khổ" (c. 20,21).
Không ai có thể phủ nhận nỗi đau khổ cùng cực của Na-ô-mi, và bà đã khẳng định Ðức Chúa Trời chính là tác giả những nỗi bất hạnh đó. Bà không đổ thừa tại "số" hẩm hiu. Bà hướng về Ðức Chúa Trời và bảo rằng chính tay Ngài đã giơ ra hại bà! Na-ô-mi đã không nghi ngờ gì về sự thực hữu của Ðức Chúa Trời, về sức mạnh không thể cưỡng chống của Ngài. Bà cũng thấy Ðức Chúa Trời ở gần bà đến độ Ngài đã đến tận nơi, vào tận trong gia đình bà và giáng họa cho bà! Ðây chính là chỗ Na-ô-mi thể hiện đức tin nơi một Ðức Chúa Trời đang nắm trong tay hạnh phúc của bà! Ðối với Na-ô-mi, Ðức Chúa Trời quyền năng, đáng sợ, và Ngài đã và đang trực tiếp can thiệp vào cuộc đời của bà.
Còn đối với chúng ta thì sao? Chúng ta có thấy Ðức Chúa Trời thực hữu và ở gần chúng ta, đang can thiệp vào cuộc đời chúng ta hay chúng ta giữ thái độ dửng dưng, coi như Ngài hoặc không có hoặc vô quyền hay chẳng quan tâm gì đến ai? Có thể chúng ta vẫn bảo rằng mình tin Chúa, nhưng đồng thời vẫn sống lãnh đạm với Ngài. Thái độ dửng dưng với Ðức Chúa Trời là thái độ của một người vô tín. Không một người nào tin Chúa đúng nghĩa mà lại không bày tỏ lòng kính sợ Ngài trong cuộc sống hàng ngày. Na-ô-mi đã thể hiện đức tin nơi Chúa không qua phước hạnh, quyền năng và phép lạ Chúa thi thố nhưng qua những kinh nghiệm đau thương và cay đắng mà bà biết rằng chính Ngài tác động.
Chúng ta đã nói đến hoàn cảnh và đức tin của Na-ô-mi, bây giờ chúng ta cần xem hoàn cảnh và đức tin đó để lại ảnh hưởng nào. Hiển nhiên xung quanh Na-ô-mi lúc đó chỉ còn lại hai con dâu, nhưng Ọt-ba về sau đã nghe lời Na-ô-mi trở về nhà cha mẹ ruột, còn Ru-tơ cương quyết theo mẹ chồng đến cùng. Ðộng cơ Ru-tơ theo Na-ô-mi là gì? Nếu nhìn theo khôn ngoan của con người, Na-ô-mi đã nói cạn lời. Na-ô-mi không còn chút tài sản nào, cũng không còn con cái để làm chồng Ru-tơ theo như qui định trong luật Môi-se. Ðiều duy nhất Na-ô-mi còn là một chút đức tin nơi Ðức Chúa Trời. Ðây chính là điều Ru-tơ đã thấy nơi mẹ chồng và cô đã cương quyết không rời, quyết định kết chặt số phận mình với Na-ô-mi, "mẹ thác nơi nào con cũng muốn thác và chôn nơi đó." Chúng ta không rõ Ru-tơ đã biết Ðức Chúa Trời của Na-ô-mi đến đâu, nhưng hiển nhiên trong lời cam kết đi theo mẹ chồng, Ru-tơ đã khẳng định, "Ðức Chúa Trời của mẹ là Ðức Chúa Trời của con!" Về sau, Bô-ô đã xác định rõ hơn ý hướng này của Ru-tơ là quyết định "đến núp dưới cánh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên" (2:12). Ðiều làm chúng ta ngạc nhiên khi nhìn vào đức tin của Ru-tơ là suốt trong bao nhiêu năm ở trong nhà chồng, Ru tơ đã thấy hoạn nạn chết chóc liên tiếp đổ xuống, chính Na-ô-mi đã khẳng định là do Ðức Chúa Trời giáng họa mà Ru-tơ đã dám đi theo một Ðức Chúa Trời như thế! Chúng ta sẽ không thể lý giải được nếu không dựa vào mối tương giao của Na-ô-mi với Ðức Chúa Trời. Ru-tơ đã cảm nhận được tình thương rất sâu đậm trong gia đình nhà chồng, đặc biệt thể hiện qua nhân cách của Na-ô-mi. Ru-tơ có thể không biết rõ Ðức Chúa Trời nhưng cô có thể chắc chắn rằng tình thương cô nhận nơi mẹ chồng bắt nguồn từ lòng tôn kính của bà với Chúa. Ru-tơ thương bà, là thương một người có một tương giao cụ thể, qua đức tin sâu đậm nơi Ðấng Toàn Năng. Từ biệt gia đình, lìa bỏ quê hương, cắt đứt với các tà thần cũ, Ru-tơ đã phó thác số phận tương lai mình vào tay Chân Thần của mẹ.
Trong bao nhiêu năm tháng chịu đựng đau thương, Na-ô-mi đã có thể chia xẻ cho Ru-tơ niềm tin nơi Ðức Chúa Trời, nhờ đó người thiếu nữ Mô-áp này đã thắp sáng lên hy vọng cho tuyển dân về Ðấng Cứu Chuộc tương lai và cũng nhờ đó, Ru-tơ đã có thể trao lại cho Na-ô-mi những năm tuổi già hạnh phúc đầy trọn. Ðây là bài học cho các bà mẹ: Hãy cho con bà thấy đức tin chân thật sống động của bà nơi Chúa Giê-xu, và hãy tìm mọi cách trao cho con đức tin đó. Cuộc đời của con bà sẽ là phần thưởng lớn lao cho bà và cho mọi người.
Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh