THONGD.JPG (18112 bytes)

Suốt Ðời Cảm Tạ

Kinh Thánh dạy chúng ta "phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa vì ý muốn của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Giê-xu Christ đối với anh em là như vậy" (ITê-sa-lô-ni-ca 5:18), nhưng nhiều con cái Chúa thường chỉ tạ ơn Ngài trong những dịp đặc biệt mà thôi, chẳng hạn như trong mùa lễ Cảm Tạ hay Năm Mới v.v… Thật sự, con cái Chúa phải luôn luôn cảm tạ Chúa, phải suốt đời cảm tạ Ngài. Là con cái Chúa, chúng ta không phải đợi đến khi được Chúa ban cho của cải vật chất thì mới biết cảm tạ Ngài, mà cả cuộc đời của người tin Chúa phải là một bài hát cảm tạ Chúa vì những lý do cao hơn, thiêng liêng hơn, và giá trị hơn.

Cảm tạ Chúa, như sứ đồ Phao-lô khuyên chúng ta trong thư ITê-sa-lô-ni-ca 5:18, là "ý muốn của Ðức Chúa Trời" đối với con dân Ngài. Ai trong chúng ta cũng muốn biết ý Chúa trong đời sống, trong hôn nhân, trong công việc làm ăn v.v… nhưng quí vị có biết rằng tạ ơn Chúa dù ở trong hoàn cảnh nào hay trong mọi việc là ý Chúa không? Chúa muốn chúng ta "phàm việc gì" cũng phải tạ ơn Ngài.

Nhưng làm thế nào để có thể tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh? Câu 28 trong phân đoạn Kinh Thánh trưng dẫn trình bày cho chúng ta biết lý do.

 

"Mọi sự hiệp lại làm ích…" (28-30)

Câu 28 đưa ra một mệnh đề khẳng định là "mọi sự hiệp lại làm ích cho những người yêu mến Chúa." Hai chữ "mọi sự" bao gồm tất cả mọi hoàn cảnh của chúng ta, từ sung sướng đến khổ sở, từ vui mừng đến buồn bã, từ dư dật đến thiếu thốn, từ mạnh khỏe đến đau yếu, từ may mắn đến bất hạnh v.v… Tại sao những hoàn cảnh như vậy lại có thể làm ích cho chúng ta?

Có hai lý do, một mặt về phía chúng ta và mặt kia về phía Chúa. Về phía chúng ta có một điều kiện kèm theo, đó là chúng ta phải là người yêu mến Chúa, còn về phía Chúa thì đó là tình yêu thương lạ lùng của Chúa đối với con cái Ngài. Quí vị đọc kỹ sẽ thấy mệnh đề "mọi sự hiệp lại làm ích cho những kẻ yêu mến Ngài" chỉ là phần đầu của câu 28 mà thôi, và mệnh đề nầy được đặt trên nền tảng của phần sau cộng thêm câu 29 và câu 30. Mấy câu nầy là lý do khiến cho mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ðức Chúa Trời. Mấy câu nầy là lý do tại sao chúng ta phải luôn luôn sống trong tinh thần tạ ơn Chúa. Trong tình yêu thương rất lạ lùng, Ðức Chúa Trời đã ban ơn cứu rỗi chúng ta, và trong ơn cứu rỗi đó, Ngài đã dự trù rằng mọi sự phải hợp lại để làm ích cho chúng ta là những người yêu mến Ngài.

Câu 28-30 cũng trình bày một cách rõ ràng về kế hoạch của Ðức Chúa Trời cứu rỗi chúng ta. Mỗi khi đọc Rô-ma chương 8, chúng ta thường trích phần đầu của câu 28 mà thôi, nhưng quên rằng phần đầu của câu 28 là kết quả tất nhiên của phần sau của câu 28 và của hai câu 29 và 30. Chúng ta thử đọc mấy câu Kinh Thánh nầy rồi đặt ra những câu hỏi và tìm câu trả lời. Mấy câu Kinh Thánh nầy đưa ra một mệnh đề chính, và rồi có 5 câu hỏi và 5 câu trả lời:

Mệnh đề chính: "Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ðức Chúa Trời."

Câu hỏi # 1: "Kẻ yêu mến Ðức Chúa Trời" là ai?

- Trả lời: Là "kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định."

Câu hỏi # 2: "Kẻ được Chúa gọi theo ý muốn Ngài đã định" là ai?

- Trả lời: "Là những kẻ Ngài đã biết trước."

Câu hỏi # 3: "Chúa định làm gì cho "những kẻ Ngài đã biết trước?"

- Trả lời: "Chúa định sẵn họ trở nên giống như hình bóng Con Ngài."

Câu hỏi # 4: Làm thế nào mà những người đó có thể "trở nên giống như hình bóng Con Ngài?"

- Trả lời: "Chúa xưng công bình cho họ."

Câu hỏi # 5: "Chúa xưng công bình" cho những người ấy để làm gì?

- Trả lời: Ðể Chúa "làm cho họ được vinh hiển."

Nói cách khác, như Thi Thiên 8:5 cho biết thì khi dựng nên loài người, Ðức Chúa Trời đã "đội cho người sự vinh hiển và sang trọng." Nhưng sau đó, vì loài người sa ngã và phạm tội, nên họ rơi vào tình trạng "thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời" (Rô-ma 3:23). Vì vậy trong kế hoạch cứu rỗi loài người, trước hết Ðức Chúa Trời phải phục hồi sự vinh hiển ban đầu cho loài người, và muốn làm điều nầy, Ngài phải "xưng công bình" cho họ, nghĩa là kể họ như chưa bao giờ phạm tội, và có địa vị thánh thiện toàn hảo trước mặt Ngài.

Nhưng làm sao Ðức Chúa Trời lại có thể xưng công bình cho loài người và kể họ như chưa bao giờ phạm tội, trong khi tất cả mọi người đều là những tội nhân trước mặt Ngài? Ðây là chỗ chúng ta phải đi vào lãnh vực thần học để tìm hiểu.

Trước hết, Ðức Chúa Trời phải có "ý muốn" cứu chúng ta thì chúng ta mới có thể được cứu, vì Ngài có toàn quyền muốn cứu chúng ta hay không cứu chúng ta. Loài người phạm tội chỉ đáng bị hình phạt đời đời trong lửa địa ngục mà thôi. Dù Chúa không cứu rỗi chúng ta thì Ngài vẫn là Ðấng công bình vì chúng ta phạm tội nên phải lãnh hậu quả xứng đáng. Khi phạm tội, bất cứ tội gì, lớn hay nhỏ, chúng ta đều vi phạm luật thánh của Chúa, và vi phạm đức thánh khiết công bình tuyệt đối của Ngài.

Nhưng tạ ơn Ðức Chúa Trời vì Ngài có ý muốn cứu rỗi chúng ta, và ý muốn nầy được quyết định theo sự "biết trước" của Ngài. Trong thư II Phi-e-rơ 3:9 có chép Ðức Chúa Trời "không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn." Chúa không muốn cho bất cứ một người nào hư mất đời đời trong hỏa ngục, Ngài muốn ban ơn cứu rỗi cho họ, nhưng ơn cứu rỗi chỉ đến với những người có lòng thành khẩn ăn năn tội và tin nhận Chúa Giê-xu mà thôi, vì Giăng 3:36 chép rằng "Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu nhưng cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời vẫn ở trên người đó." Công Vụ 4:12 cũng chép: "Chẳng có sự cứu rỗi trong Ðấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." Ðây cũng là chỗ mà chúng ta thấy được giao điểm của quyền tể trị của Ðức Chúa Trời và sự tự do lựa chọn của loài người.

Kế đó, trong ý muốn của Ðức Chúa Trời bởi sự biết trước của Ngài để cứu những người có lòng ăn năn và tin nhận Chúa Giê-xu, Ngài "định sẵn" cho những người ấy "trở nên giống như hình bóng của Con Ngài" tức là giống Chúa Giê-xu. Ðể làm công việc phi thường nầy, Ðức Chúa Trời phải "xưng công bình" cho tội nhân, có nghĩa là Ðức Chúa Trời kể tội nhân như là người vô tội vì họ đã đặt lòng tin nơi Chúa Giê-xu là Ðấng đã chết thay cho họ trên cây thập tự. Và trong tình trạng được "xưng công bình", chúng ta mới được Ðức Chúa Trời "làm cho vinh hiển", nghĩa là khi Chúa Giê-xu tái lâm để tiếp rước những người thật sự thuộc về Ngài – hay Hội Thánh thật của Ngài – về thiên đàng, thì tất cả chúng ta sẽ được Chúa ban cho một thân thể mới, một thân thể bất diệt và vinh hiển đời đời để sống đời đời trong nước trời vinh hiển của Ðức Chúa Trời. "Làm cho chúng ta vinh hiển" là giai đoạn sau cùng của tiến trình cứu rỗi nhân loại.

Chúng ta thấy ơn cứu rỗi Chúa ban cho chúng ta thật hết sức nhiêu khê và phức tạp phải không? Nhiêu khê và phức tạp vì hành động của Ðức Chúa Trời là sự hòa hợp giữa hai bản tánh căn bản của Ngài: thánh khiết và yêu thương. Vì thánh khiết tuyệt đối, Ðức Chúa Trời không thể tự dưng tha tội cho chúng ta. Nhưng trong chỗ khó khăn nầy, đức yêu thương của Ðức Chúa Trời đã can thiệp bằng cách "ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời". Ðức Chúa Trời phải dự trù Con Ngài là Chúa Giê-xu đến thế gian làm một con người toàn hảo, tuyệt đối vô tội, nhưng lại tình nguyện mang tội lỗi của nhân loại, và chịu hình phạt chết thế cho nhân loại, hầu cho sự đòi hỏi của đức thánh khiết được đức yêu thương đáp ứng thỏa mãn.

Ơn cứu rỗi của Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta quá lớn lao, quá kỳ diệu, quá sức tưởng tượng! Và cũng vì lý do đó, nên khi tiếp nhận ơn cứu rỗi của Ðức Chúa Trời, chúng ta phải nói như sứ đồ Phao-lô ngày xưa là tôi "đội ơn thương xót" của Chúa, và đời đời phải cảm tạ Chúa. Có người đặt câu hỏi vào thiên đàng, chúng ta sẽ làm gì cho hết thì giờ trong cõi đời đời? Tôi không biết rõ, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải có cả cõi đời đời mới đủ thì giờ làm hai điều: thứ nhất là cảm tạ Ðức Chúa Trời đã cứu rỗi chúng ta, và thứ hai là chiêm ngưỡng tình yêu vô hạn của Ngài. Thời gian không bao giờ đủ cho chúng ta cảm tạ Chúa, cũng như tìm hiểu tình yêu thương lạ lùng của Chúa đối với chúng ta!

 

"Ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta"

Ơn cứu rỗi của Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Chúa Giê-xu không dừng lại ở chỗ khiến "mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ðức Chúa Trời", mà còn tiếp tục ban ơn càng thêm ơn cho chúng ta qua một sự bảo đảm hết sức lạ lùng. Chúa bảo đảm trong câu 32 rằng: "Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?"

Ðến đây, chúng ta gặp lại hai chữ "mọi sự". Trong câu 28, hai chữ "mọi sự" dường như ám chỉ những hoàn cảnh khó khăn, những tình trạng khổ đau mà chúng ta gặp trong đời sống, nhưng trong câu 32, hai chữ "mọi sự" lại ám chỉ mọi điều phước hạnh và tốt lành nhất mà Chúa muốn ban cho con cái trung kiên của Ngài.

Ðứng trên phương diện lý luận, câu 32 là một sự so sánh mang tính chất quả quyết. Phao-lô dám nói rằng Ðức Chúa Trời chắc chắn sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta cần để sống một cuộc đời tin kính Chúa. Chúa nhất định sẽ không tiếc bất cứ điều gì đối với chúng ta nữa, vì điều quí nhất là mạng sống của Chúa Giê-xu, Con Ngài, mà Ðức Chúa Trời còn không tiếc và ban cho chúng ta để cứu rỗi chúng ta, thì Ngài còn tiếc điều gì nữa bây giờ? Cũng giống như chẳng hạn nếu người nào trong quí vị cho tôi 1 tỷ dollars mà không tiếc, thì khi tôi xin thêm vài ba dollars nữa, không lẽ người đó lại tiếc mà không cho tôi sao?

Vì giá trị của sự cứu rỗi quá lớn lao và sự hi sinh của Chúa Giê-xu quá cao quí, nên trong những câu tiếp theo, sứ đồ Phao-lô lý luận rằng Ðức Chúa Trời không thể nào để cho ma quỉ làm hỏng đi phước hạnh nầy của những người yêu mến Ngài. Sa-tan, nguyên là một thiên thần của Chúa, nhưng đã sa ngã phạm tội và Kinh Thánh cho biết là Sa-tan không thể được cứu, nên nó ganh với chúng ta là những người cũng sa ngã phạm tội nhưng lại được Chúa cứu rỗi. Sa-tan thường dùng ba cách để làm hại chúng ta là con cái Chúa trong ý hướng muốn lôi kéo chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Ðức Chúa Trời. Trước hết nó dùng luật pháp, và tiếp theo là nó dùng luật rừng.

Thứ nhất, Sa-tan dựa trên luật pháp để kiện cáo chúng ta trước mặt Ðức Chúa Trời (câu 33). Sa-tan đưa chúng ta ra tòa với lý luận chúng ta là những tội nhân, và ngay cả sau khi đã tin theo Chúa Giê-xu rồi, chúng ta cũng chưa trở nên thánh thiện toàn vẹn, vẫn còn nhiều lỗi lầm. Sa-tan kiện chúng ta trước mặt Ðức Chúa Trời rằng chúng ta không thể được cứu, vì chúng ta không xứng đáng được cứu. Nhưng Sa-tan sẽ thua kiện vì Ðức Chúa Trời không cứu chúng ta vì chúng ta xứng đáng, nhưng cứu chúng ta vì chúng ta được Ngài "xưng công bình".

Thứ hai, Sa-tan lên án chúng ta (câu 34). Sa-tan cũng dựa vào luật pháp của Ðức Chúa Trời để lên án chúng ta. Satan lý luận làm thế nào mà Ðức Chúa Trời lại có thể "xưng công bình" cho chúng ta, nghĩa là kể chúng ta vô tội trước mặt Ngài được? Nhưng Sa-tan lại thua kiện nữa vì phán quyết của Ðức Chúa Trời xưng công bình cho chúng ta không dựa trên cá nhân mỗi chúng ta, mà dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu thay thế cho chúng ta. Thư II Cô-rinh-tô 5:21 giải thích rõ như vậy: "Ðức Chúa Trời đã làm cho Ðấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Ðấng đó mà được trở nên sự công bình của Ðức Chúa Trời." Chúa Giê-xu là Ðấng vô tội đã lãnh án phạt và chịu chết thế cho chúng ta, và Ngài hiện đang ngự bên hữu Ðức Chúa Cha cầu nguyện thế cho chúng ta. Dù chúng ta có lỗi lầm nào nữa, khi chúng ta ăn năn tội, thì sự chết của Ngài vẫn có hiệu lực để tha thứ cho chúng ta như có chép trong thư I Giăng 1:9, "còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta."

Trước toà án mà Ðức Chúa Trời là vị chánh thẩm tối cao, Sa-tan đóng vai công tố viên (prosecutor), nhưng Chúa Giê-xu đóng vai luật sư biện hộ cho chúng ta (lawyer – counsellor). Cám ơn Chúa Giê-xu, chẳng những Ngài là vị luật sư bào chữa cho chúng ta mà Ngài còn là Ðấng đã chịu hình phạt chết thế cho chúng ta để chúng ta được tha tội và được trắng án.

Khi dựa vào luật pháp không được, Sa-tan dùng luật rừng, đó là tìm đủ cách để "phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Ðấng Christ" (câu 35-37). Sa-tan thật quỉ quyệt và tàn bạo khi nó áp dụng luật rừng bằng cách dùng "hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo v.v…" để phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Chúa Giê-xu. Tôi suy nghĩ không biết Sa-tan có bao giờ tự hỏi: "Tại sao Chúa thương chúng ta quá chừng như vậy?" Tôi nghĩ có, vì dựa vào câu chuyện về Gióp. Satan đã từng lý luận với Ðức Chúa Trời rằng sở dĩ Gióp kính sợ Chúa vì Ngài ban cho Gióp sự giàu có. Nhưng một lần nữa, Sa-tan vẫn thua, vì mọi sự như hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo v.v… vẫn không đánh bại chúng ta được, vì Chúa Giê-xu là Ðấng yêu thương chúng ta vẫn đứng đó mà bảo vệ chúng ta, ban cho chúng ta sự chiến thắng Sa-tan. Chúa Giêxu đã yêu thương ai thì Ngài "cứ yêu cho đến cuối cùng" (Giăng 13:1b).

Chúng ta có thể nói câu 38 và 39 tiếp theo là một bản tuyên ngôn về đức tin vào tình yêu của Ðức Chúa Trời. Bản tuyên ngôn nầy chấn động cả thiên đàng và địa ngục. Bản tuyên ngôn nầy bảo đảm không điều gì, dù sự sống hay sự chết, dù thiên sứ hay những người cầm quyền, hiện tại hay tương lai, quyền phép của chiều cao hay chiều sâu, hoặc bất luận một vật gì, cái gì, người nào v.v… có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Ðức Chúa Trời được, vì Ngài đã ban tình yêu đó cho chúng ta trong Chúa Giê-xu! Halêlugia!

Làm thế nào mà chúng ta là những người đã nhận được tình yêu đó lại không tạ ơn Chúa? Hỏi tức là trả lời. Tuy nhiên, tạ ơn Chúa không chỉ có nghĩa là ca hát hay nói ra những lời cảm tạ, mà phải sống và hành động trong mục đích tạ ơn Chúa:

- Sống một cuộc đời tin kính, thờ phượng và vâng lời Chúa, tận hiến cuộc đời cho công việc Chúa.

- Thực sự làm môn đệ của Chúa và nhiệt tâm khiến người khác trở thành môn đệ của Ngài.

Có một câu chuyện kể rằng trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một người lính là con trai duy nhất của một nhà triệu phú. Trong một trận đánh lớn, anh ta bị thương nặng và không còn sống được bao lâu. Trước khi chết, anh ta viết một bức thư và nhờ một người lính bạn thân của anh trong đơn vị khi trở về đem đến tận tay cho người cha. Sau khi anh lính nầy chết, người bạn xin phép trở về và đến nhà của ông triệu phú trao tận tay bức thư của người con tử trận. Bức thư có nội dung như sau:

"Thưa cha. Con viết bức thư nầy trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời con. Chắc chắn con không thể sống sót vì bị thương quá nặng và mất nhiều máu. Con viết thư nầy trước để cám ơn cha đã thương con quá nhiều. Con tiếc là không thể sống để sau nầy sống bên cạnh cha trong lúc cha già yếu. Nhưng con xin cha làm một điều cho con: đó là xin cha nhận người bạn đã cầm bức thư nầy về làm con thế cho con. Anh ta là một người bạn tốt của con đã làm ơn cho con nhiều lần. Anh ta mồ côi cha mẹ. Anh ta sẽ là một người con hiếu thảo khi cha chấp nhận anh ta làm con của cha thế chỗ cho con. Chúa ở cùng cha."

Mục Sư Nguyễn Bá Quang