THONGD.JPG (18112 bytes)

MSNBQ.JPG (14696 bytes)

Tiểu Sử Mục Sư Nguyễn Bá Quang

1935-2000

Giáo Hạt Trưởng Giáo Hạt Việt Nam, Hoa Kỳ

Mục Sư Nguyễn Bá Quang quê ở làng Thổ Ngọa, tỉnh Quảng Bình, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1935 tại làng Xương Huân, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa trong gia đình trung lưu. Con trai của Ông Nguyễn Bá Mưu và Bà Nguyễn Thị Lài. Ông thân sinh là công chức, cũng là một người tin kính Chúa từ Hội thánh Vinh, nhưng đã mất trong một hoàn cảnh rất đau thương của khói lửa chiến tranh. Mục Sư Quang mồ côi cha năm 12 tuổi được mẹ nuôi dưỡng chu đáo, lớn lên theo học trường Trung Học Pellerin ở Huế từ năm 1949-1955. Từ khi còn là một thiếu niên cậu Quang đã có lòng sốt sắng đặc biệt thích nói về đạo Chúa cho nhiều người, cho bạn bè trong trường và cho cả những người lớn tuổi khi có cơ hội. Năm 20 tuổi, được sự khích lệ của Mục Sư Lê Hoàng Phu, cậu thanh niên Nguyễn Bá Quang của Hội Thánh Huế đã có một quyết định quan trọng: dâng cuộc đời cho Chúa.

Năm 1955 cậu từ giã đời thường lên đường vào học Trường Kinh Thánh tại Ðà Nẵng. Năm 1957 Thầy Nguyễn Bá Quang được bổ chức hầu việc Chúa tại nhiệm sở đầu tiên là Hội Thánh Ninh Hòa (Khánh Hòa), rồi sau đó là Bồng Sơn (Bình Ðịnh) và Pleiku. Do hoàn cảnh riêng, Thầy Quang tạm nghỉ chức vụ từ năm 1959-1962, vào Saigon làm việc cho Việt Nam Thông Tấn Xã. Ðây cũng là thời gian Thầy Quang tham gia Nhóm Sinh Viên Tin Lành đầu tiên được thành lập tại Saigon trong phong trào Sinh Viên Tin Lành Thế Giới mà người đặc trách tiên phong tại Việt Nam là Mục Sư Paul A. Contento.

Sau khi lập gia đình năm 1962 với cô Chung Thị Hoàng Bích, thứ nữ Ông Bà Mục sư Chung Khâm Lộc, Chúa đã đưa Mục Sư Quang vào hàng loạt những thay đổi quan trọng trong cuộc sống, làm phong phú thêm kinh nghiệm cho cuộc đời hầu việc Chúa. Lệnh gọi nhập ngũ năm 1962 đã đưa phóng viên Nguyễn Bá Quang của Việt Tấn Xã vào khoá 14 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức. Rồi với khả năng thông dịch và kinh nghiệm trong ngành truyền thông, ông được cử làm Sĩ Quan Báo Chí của phòng Tùy Viên Quân Sự, bên cạnh tòa Ðại Sứ Viêt Nam tại Manila, Phi-luật Tân từ năm 1964-1966. Sau khi được giải ngũ không lâu, lệnh tái ngũ lại đưa ông vào phục vụ trong Bộ Quốc Phòng, sau được thuyên chuyển về Nha Tuyên Úy Tin Lành. Năm 1970 ông được đặc cách du học tại Febias College of Bible, Phi-luật-tân, tốt nghiệp Cử Nhân Thần Học và Cao Học Khoa Học năm 1974. Vì từ 1968 Bà Nguyễn Bá Quang phụ trách chương trình Việt Ngữ của Ðài Viễn Ðông (FEBC) tại Manila cho nên trong thời gian du học Mục Sư Quang đã cùng với bà Quang và ông bà Mục Sư Nguyễn Thỉ cũng đang du học, cộng tác với chương trình Phát Thanh Tin lành, giúp mở rộng đáng kể tầm ảnh hưởng của Ðài.

Về nước năm 1974 Mục Sư Quang tiếp tục công tác tại Nha Tuyên Úy Tin Lành với chức vụ Trưởng Khối Giáo Vụ, kiêm chủ bút nguyệt san "Niềm Tin." Tháng 4, 1975 sau khi định cư tại Hoa Kỳ, Mục Sư và Bà Nguyễn Bá Quang tiếp tục công việc phát thanh và ông đã trở thành Trưởng Ban Việt Ngữ đầu tiên của Ðài Nguồn Sống tại thành phố La Mirada trong suốt 15 năm. Cuối năm 1990 ông được Chúa kêu gọi quản nhiệm Hội thánh Seattle, tiểu bang Washington. Ngoài ơn giảng, dạy, phát thanh, ông còn là chủ bút Báo Thông Công của Giáo Hạt Việt Nam liên tiếp 12 năm, từ năm 1988. Mục sư Nguyễn Bá Quang từng giữ các chức vụ Nghị Viên Giáo Hạt (1986-1988), Thư Ký Giáo Hạt (1988-1997) và cuối cùng đắc cử Giáo Hạt Trưởng năm 1997.

Từ khi được Chúa kêu gọi vào con đường phụng sự, Mục Sư Quang đã dâng mọi khả năng Chúa ban, sống dấn thân cho Chúa trong tất cả các chức vụ trong mọi hoàn cảnh. Ông là một người năng động, đầy sáng kiến với tấm lòng nóng cháy cho công việc Chúa. Trong những năm đầu thập niên 80, ngoài công tác giảng Tin Lành trên Ðài Nguồn Sống, ông còn là sứ giả bồi linh cho các Hội thánh ở Canada, Úc Châu và Âu Châu. Ông cũng cộng tác với Mục sư Văn Ðài giảng dạy thường xuyên tại Hội Thánh Santa Ana. Chúa cũng đặt trong lòng ông khải tượng vỡ đất mới khi cộng tác với một số con cái Chúa mở Hội Thánh Fullerton. Ðầu thập niên 90, sau khi làm quản nhiệm Hội Thánh Seattle một thời gian, Chúa đã dùng ông thành lập Hội Thánh Everett và Hội Thánh Kent ở vùng này. Tuy nhiên một trong những công tác quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài là khích lệ và gây dựng thanh niên trong đó có các Mục sư trẻ trở thành những người tiếp nối chức vụ chăn bày như Mục sư Phan Trần Dũng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Hoàng Chính, Chế Anh Liệt… và Ðức Chúa Trời đã ấn chứng cho sứ mạng này khi ông trở thành GiáoHạt Trưởng, là "Mục sư của các Mục sư" vào Hội Ðồng Giáo Hạt năm 1997.

Mục Sư Nguyễn Bá Quang lâm trọng bệnh từ tháng 4, 2000. Sau mấy tháng xét nghiệm bác sĩ cho biết ông đã bị ung thư gan đến thời kỳ cuối cùng. Ông về với Chúa sau một kinh nghiệm thấy Chúa thật vinh quang phước hạnh vào sáng thứ bảy 12 tháng 8, 2000 tại bệnh viện Oasis of Hope tại Tijuana, Mexico.

Tiểu sử của Mục Sư Nguyễn Bá Quang sẽ không đầy đủ nếu không nói đến tâm tình của ông và con người nhân hậu, mềm mại, thuận phục đàng sau dáng dấp nghiêm nghị của một cấp chỉ huy. Ông có tấm lòng quí mến các tôi tớ Chúa, quan tâm đến những người cộng tác, nhưng cũng là một con người nguyên tắc, vâng phục thẩm quyền, thẳng thắn và cương trực. Ông rất trung tín học lời Chúa trong các giờ tĩnh nguyện, và đây là một trong những bí quyết giúp ông được Chúa ban ơn đặc biệt trong mục vụ giảng dạy: ở riêng trong chỗ thâm sâu với Chúa trước khi đến với người. Trong lãnh vực cầu nguyên cũng vậy, ông theo gương Chúa Giê-xu, mỗi khi đứng trước những quyết định quan trọng, ông không bàn với ai nhưng trước hết trình dâng cho Chúa và thức thâu đêm cầu nguyện.

Dù được Ðức Chúa Trời ban nhiều ân tứ và đại dụng trong nhiều năm qua, Mục Sư Nguyễn Bá Quang vẫn thấy nặng lòng đến độ quặn thắt khi nhìn về tương lai Giáo Hạt: có quá ít người trẻ dâng mình đi vào con đường hầu việc Chúa, trong khi dường như một số trong thành phần lãnh đạo hiện nay đang giảm dần phần nào nhiệt huyết.

Về phương diện cá nhân và gia đình, cuộc đời Mục Sư Nguyễn Bá Quang có nhiều mong ước chưa thành. Ông từng thổ lộ rằng một trong những nguyện ước của ông là được lo lắng cho mẹ cho đến ngày cuối cùng, người mẹ già đã sống goá bụa hơn nửa thế kỷ qua, từ năm 29 tuổi, hy sinh cả thời son trẻ nuôi hai con khôn lớn là cố chuẩn tướng Nguyễn Bá Liên và Mục Sư Nguyễn Bá Quang. Mong ước thứ hai của ông là mong gây dựng gia thất cho con cái, nhưng đến nay thì việc đó vẫn còn trong chương trình chưa tiết lộ của Ðức Chúa Trời. Mong ước cuối cùng của ông không thành là nhiệm kỳ Giáo Hạt Trưởng chưa hoàn tất.

Tuy nhiên, tất cả những ước nguyện dở dang trên đã trở nên mờ nhạt vào sáng thứ Bảy 12 tháng 8, 2000, khi Ðức Chúa Trời bày tỏ cho tôi tớ Ngài lòng thành tín và tình yêu sâu đậm của Ngài. Sau một đêm vật vã, không ngủ, phảng phất nỗi đau đớn của vườn Ghết-sê-ma-nê, Chúa đã đưa Mục Sư Nguyễn Bá Quang vào trong trạng thái thanh thản lạ lùng sau khi ông quyết định không ăn uống nữa và nói với bà rằng ông muốn đi với Chúa Giê-xu. Từ 9 giờ sáng, gương mặt ông rạng rỡ, tươi cười, bà hỏi ông thấy gì, ông đưa tay chỉ lên trời. Bà hỏi ông có thấy thiên đàng không, có thấy Chúa Giê-xu không, ông gật đầu. Trong hơn hai tiếng đồng hồ ông ở trong trạng thái sung sướng đó. Có lúc nghe ông cười thành tiếng, bà đến bên giường lại hỏi ông thấy gì, ông đưa hai tay lên trời bảo rằng ông thấy Chúa. Ông nắm chặt tay bà, bảo bà ghé xuống, ông nói thật rõ ràng, "Anh rất thương em, nhưng anh phải đi với Chúa Giê-xu. Em ở lại, đừng buồn." Bà bảo ông ráng chờ cho các con đến, nhưng ông thiếp đi và đến 3:30 chiều thì an nghỉ, bước vào cõi vô thời gian, trong vòng tay yêu thương của Ðấng ông đã suốt đời tin cậy, rao giảng, phục vụ. Chúa Giê-xu đã cho tôi tớ Ngài đặc ân hiếm có khi còn trong thân xác, đượcï thấy Chúa trong vinh quang của thiên đàng, và nhất là lại được chia xẻ khoảnh khắc kinh nghiệm đầy ơn phước này với người bạn đời yêu quí. Cuộc đời chức vụ của Mục Sư Nguyễn Bá Quang không dang dở nhưng đã thật sự hoàn tất trọn vẹn tốt đẹp nhất trong giây phút ông quyết định đi với Chúa và khi đưa tay ra nắm lấy tay Ngài.

Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh

(Viết theo lời kể của Cụ Bà quả phụ Nguyễn Bá Mưu, Bà Nguyễn Bá Quang, Mục Sư Nguyễn Thỉ, Ông Nguyễn Hữu Ái, và tài liệu Trang Sử Mới, tr. 136-137)

Bài tiểu sử này đã được Mục Sư Huỳnh Văn Linh, Thủ Quỹ Giáo Hạt, đọc trong tang lễ Mục Sư Nguyễn Bá Quang ngày 19/8/2000)