Thong Cong Tạp Chí Dưỡng Linh và Truyền Giảng
Giáo HạtSáchMục LụcBài Giảng
Updated 07/20/04
corner_p.gif (91 bytes)
Số Mới Phát Hành
Giá Trị Của Lòng Biết Ơn

Trong Mùa Tạ Ơn chúng ta sẽ cùng suy niệm về giá trị của lòng biết ơn thể hiện qua thi ca và cuộc đời của một vĩ nhân trong lịch sử Do Thái là vua Ða-vít.

I. Khuynh Hướng Vô Ơn Nơi Con Người

Trong bối cảnh đạo đức tiêu điều của xã hội hiện tại khi mối quan hệ giữa con người với nhau và với Ðức Chúa Trời ngày càng suy xụp, thì ngày Lễ Tạ Ơn còn lại trong đất nước này giống như một ngọn đèn đơn độc trong bóng tối mênh mông. Cách đây bốn năm, tuần báo Newsweek có một bài khá nặng chê trách Tổng Thống Clinton là một con người vô ơn khi chỉ hai ngày sau khi tái đắc cử đã sa thải ông Harold Ickes, một cộng sư viên đắc lực đã giúp ông trong cả hai lần tranh cử năm 1992 và 1996. Hiển nhiên dù trong nền văn hóa nào, không ai chấp nhận thái độ vô ơn. Tuy nhiên điều nghịch lý là sâu kín trong lòng con người lại tiềm ẩn khuynh hướng vô ơn, cho nên dựa vào kinh nghiệm đau thương, người Việt chúng ta đã có những thành ngữ như vô ơn bạc nghĩa, thói đời đen bạc, bạc như vôi hay như câu tục ngữ chua chát "Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán."

Trong Kinh Thánh, vua Ða-vít là tác giả Thi Thiên 103 nổi tiếng nói về những ân huệ sung mãn của Chúa đã phải tự nhủ, có lẽ vì hay quên: "Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, chớ quên các ân huệ của Ngài".

Phúc âÂm Lu-ca 17 ghi lại việc Chúa chữa lành cho 10 người bị bệnh phung cùi, nhưng chỉ có một người, lại là một người ngoại tộc trở lại tạ ơn, nên Chúa Giê-xu đã phải ngạc nhiên thốt lên: "Không phải mười người đều được lành sao? Còn chín người kia ở đâu? Chỉ có người ngoại quốc này trở lại ca ngợi Ðức Chúa Trời ư?" Như vậy dù ở thời đại nào và trong nền văn hóa nào chúng ta đều thấy có những con người vô ơn, và tất nhiên không ai tán thưởng lòng vô ơn. Nhưng tại sao con người lại có khuynh hướng vô ơn?

Chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân đầu tiên trong bóng dáng của lòng kiêu ngạo: không chấp nhận những lúc mình đã phải cần đến người khác, phải nhờ vả, phải năn nỉ... Ðối với tánh tự kiêu, thọ ơn là một kinh nghiệm đau khổ. Khi thọ ơn, con người nhận rằng mình không đủ sức vượt qua khó khăn hay giải quyết nan đề của mình. Nói cách khác, thọ ơn là thú nhận thất bại, và đó là cái làm tính tự cao tổn thương. Vì thế có người đã cố tình quên ơn để tránh những hậu quả khó chịu cho lòng tự ái. Tuy nhiên những người suy nghĩ và phản ứng như thế có lẽ đã vô tình quên rằng không một con người nào là không từng chịu ơn, ít ra là ơn cha, nghĩa mẹ, công thầy, vì vậy thọ ơn là điều không thể tránh. Thật ra thay vì có phản ứng tiêu cực với sự thọ ơn, dừng lại suy nghĩ chúng ta có thể thấy được khía cạnh tích cực của lòng biết ơn. Thể hiện lòng biết ơn là cơ hội quan trọng giúp chúng ta thiết lập mối quan hệ lâu bền với những người có tấm lòng bao dung. Chính những mối quan hệ đó giúp cho cuộc đời chúng ta phong phú hơn. Thể hiện lòng biết ơn đối với người đã như vậy, thể hiện lòng biết ơn đối với Ðức Chúa Trời chính đáng, hợp lý và ích lợi hơn bội phần. Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều biết ơn Ðức Chúa Trời và tự nhiên biết cách bày tỏ lòng biết ơn Ngài. Quí vị thì sao? Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn Ðức Chúa Trời như thế nào? Suy niệm về lòng biết ơn của vua Ða-vít sẽ giúp chúng ta biết phải tạ ơn Ðức Chúa Trời như thế nào, và mong rằng những điều này sẽ giúp cho Mùa Tạ Ơn của chúng ta trên đất Mỹ có ý nghĩa hơn.

II. Lòng Biết Ơn Của Vua Ða-vít

Ða-vít là vị vua thứ nhì trong lịch sử Israel, sinh vào khoảng năm 1040 T.C., được kể là vị vua được yêu mến nhất và cũng quan trọng nhất, không chỉ với người Do Thái, trong lịch sử Do Thái, mà còn đối với toàn thế giới. Vai trò của vua Ða-vít có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại vì vua Ða-vít đã nhận được lời hứa của Ðức Chúa Trời rằng, Chúa Cứu Thế của nhân loại sẽ ra từ dòng dõi ông. Khi Chúa Cứu Thế Giê-xu giáng sinh, lời hứa quan trọng trên đã thành nghiệm.

Xuất thân là một mục đồng nhưng Ða-vít đã dần dần trở thành chiến sĩ rồi tướng lãnh, sau cùng là vua. Nếu có cuộc đời nào nhiều sóng gió, thăng trầm, thì phải nói đó là cuộc đời Ða-vít. Tuy nhiên trong tất cả những bước thăng trầm đó, Ða-vít bám chặt lấy Chúa không rời. Ðiều quan trọng nhất ông đã làm suốt đời là thọ ơn Chúa và biết ơn Chúa.

Là chiến sĩ, là vua, nhưng Ða-vít còn là một nhà thơ, một nhà thơ lớn. Sự nghiệp thi ca của vua Ða-vít chỉ có khoảng hơn 70 bài nhưng trong cả lịch sử văn minh nhân loại, không nhà thơ nào sự nghiệp thi ca có ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn, bao trùm như của Ða-vít. Thơ ca của các thi hào cổ thời chúng ta thường nghe danh như Lý Bạch, Tô Ðông Pha, Nguyễn Du, Tản Ðà, Tagore, Milton, Shakespeare…chỉ ảnh hưởng đến một quốc gia, một nền văn hoá, trong một thời đại nào đó. Trong khi đó, ảnh hưởng của thi ca Ða-vít lan tràn đến bất cứ nơi nào đạo Chúa được tiếp nhận. Ðặc điểm độc đáo nổi bật của thi ca Ða-vít là không chỉ mô tả tâm trạng, tâm hồn, tình cảm mong manh, bấp bênh của con người, "Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…", nhưng mô tả mối tương giao thâm sâu, riêng tư với Ðức Chúa Trời. Ðây là điểm cần nhấn mạnh. Thi nhân thông thường mô tả tâm hồn mình trong tương quan với cảnh, với người, nhưng Ða-vít chỉ nói đến mối tương giao giữa mình với Ðức Chúa Trời, không chỉ nói trong một vài bài, mà trong tất cả các bài thơ ông viết! Lúc nào Ða-vít cũng dốc đổ tâm sự, nan đề, niềm vui, nỗi buồn với Chúa. Có nhiều bài thơ ca ngợi, tôn thờ Chúa, có những bài ăn năn thú tội với Chúa, lại có những bài van vỉ, nài xin và có những bài chân thành cảm tạ Chúa. Chúng ta phải có kết luận nào về đặc điểm này của thi ca Ða-vít? Kết luận không thể tránh được đó là mối tương giao của Ða-vít với Ðức Chúa Trời là rất thật và Ðức Chúa Trời là Ðấng Ða-vít tôn thờ, cảm tạ, tâm giao cũng rất thật, là Thượng Ðế hằng hữu, vì nếu không, những lời tâm sự của Ða-vít trong toàn thể thi ca của ông sẽ chỉ là những lời độc thoại lẩn thẩn của một người mất trí, nói với một nhân vật không có thật về một mối tương giao tưởng tượng!

Trong số những bài thơ vua Ða-vít đã làm, Thi Thiên 139 có lẽ là một trong những lời cảm tạ Chúa sâu sắc nhất, khi ông thốt lên rằng, "chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng" (c.13,14). Tất nhiên để biết ơn một người nào chúng ta không những biết điều người đó đã làm, nhưng còn cần biết rõ về chính người đã thi ân. Ðây là điều vua Ða-vít diễn đạt khi nói về lòng biết ơn của ông đối với Chúa trong Thi Thiên 139.

Trong phần đầu của bài thơ, vua Ða-vít nói đến thuộc tính toàn tri của Ðức Chúa Trời, không có điều gì Ngài không biết, "Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi. Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi. Chúa biết đường tôi đi, khi tôi ngủ; Chúa quen biết các đường lối tôi; Lời chưa ở trên lưỡi tôi, kìa hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi" (c.1-3 ff). Phần thứ hai của bài thơ, Ða-vít nói đến thuộc tính toàn tại của Chúa, không nơi nào không có Ngài, "Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó; ví tôi nằm dưới âm phủ, kìa Chúa cũng có ở đó. Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông bay qua ở tại cuối cùng biển, tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, tay hũu Chúa sẽ nắm giũ tôi..." (c.7-10…). Trong phần thứ ba của bài thơ, Ða-vít nói đến tính toàn năng của Ðức Chúa Trời, cũng là Ðấng đã tạo dựng con người cách "đáng sợ lạ lùng." Ða-vít biết Ðức Chúa Trời ông tôn thờ là Ðấng Tạo Hoá toàn tri, toàn năng, toàn tại, nhưng điều đáng kinh ngạc hơn hết đối với Ða-vít là Tạo Hoá vĩ đại như thế lại tập trung tất cả tính toàn năng, toàn tại, toàn tri của Ngài để tạo dựng nên ông, để thấy ông, để biết ông. Tất cả quyền năng của Ðức Chúa Trời dường như chỉ dùng để chú mục vào con người là một kiệt tác Ngài sáng tạo. Con người mà đại diện là Ða-vít, là tiêu điểm các hoạt động của Ðức Chúa Trời toàn hảo. Lòng biết ơn của Ða-vít đã xuất phát từ đó.

Như đã nói, các thi nhân thế tục chỉ biết diễn tả xúc cảm cá nhân trong các mối tương giao với thiên nhiên, với sự vật hoặc với tha nhân, thường là bè bạn, người yêu hay người trong mộng, như những câu này của Vũ Hoàng Chương, "Em ơi! Lửa tắt bình khô rượu! Ðời vắng em rồi say với ai?", hay của Ðinh Hùng, " Từ giã hoàng hôn trong mắt em, Tôi đi tìm những phố không đèn, Gió mùa Thu sớm bao dư vị, Của chút hương thầm khi mới quen..." hay của Huy Cận, "Aùo trắng đơn sơ mộng trắng trong, Hôm xưa em đến mắt như lòng, Nở bừng ánh sáng em đi đến, Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng..." Ðây là những câu thơ rất hay, và người ta có thể nói là những chuỗi ngọc trong rừng thơ, nhưng đến cuối cùng nó nói lên được những gì? - Những tình cảm bâng khuâng mơ mộng của tâm hồn thi nhân không đưa ai đến đâu cả, cùng lắm là như Ðinh Hùng đi đến chỗ bảo rằng "Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa!" Mối tương giao của con người với nhau cho dù có tốt đẹp thơ mộng đến đâu cũng không thể thoát ra khỏi cõi trần gian bi lụy này, chỉ có mối tương giao với Ðức Chúa Trời mới thực sự đưa con người vượt hẳn lên cao. Chính vì thế thi ca Ða-vít không nhấn mạnh đến mối tương giao nào khác hơn là mối tương giao với Ðức Chúa Trời. Ðây cũng chính là vùng không gian bao la, là giới hạn mà các thi nhân thế tục dù tinh tế đến mấy cũng không thể nào vươn tới được. Ðối với vua Ða-vít, bằng chứng của mối tương giao đó là chính con người ông bằng xương bằng thịt và bằng cả linh hồn bất diệt, nên ông đã viết rằng, "chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ, lạ lùng."

Sách Sáng Thế 1: 27; 2: 7 cho biết Ðức Chúa Trời đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nghĩa là với những phẩm tính độc đáo không loài vật nào có, (1) khả năng sáng tạo giống Thượng Ðế là Ðấng Tạo Hoá. Không như loài vật ngàn xưa làm sao, ngày nay vẫn vậy, con người có trí thông minh và tiến bộ không ngừng. (2) Con người được phú ban lương tâm, có ý thức đạo đức, ý thức về sự công chính, đúng, sai, như Ðức Chúa Trời là Ðấng công chính; (3) Con người có linh hồn bất diệt, vĩnh hằng như Ðức Chúa Trời là Chân Thần hằng hữu.

Ngoài những phẩm tính vô hình đó, thân xác con người cũng là một kiệt tác của Ðức Chúa Trời mà không một người bình thường nào không nhận ra. Với cặp mắt, chúng ta không chỉ thấy hình dáng, màu sắc, nhưng nhìn nét mặt một người chúng ta còn có thể đoán biết tâm trạng vui buồn bên trong. Nghe một tiếng nói chúng ta cảm nhận được cả những cảm tình hàm chứa trong đó. Âm nhạc cũng là một ơn phước lớn lao Ðấng Tạo Hoá ban cho con người. Thử tượng tượng thế giới chúng ta không còn âm nhạc nữa và con người sinh ra không có tai thì cuộc sống chúng ta sẽ nghèo nàn, đơn điệu đến đâu! Chúng ta cũng được tạo dựng với miệng lưỡi không chỉ để nói nhưng còn để ăn uống với khẩu vị tinh tế vượt xa các loài động vật khác. Thử tưởng tượng miệng chúng ta được tạo dựng chỉ để ăn cỏ thì chúng ta thấy mình thiệt thòi biết chừng nào! Ý thức được những đặc tính này trong thân xác và linh hồn con người, Ða-vít đã phải thốt lên, "tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng!"

Nhưng lòng biết ơn đó đã đưa Ða-vít đến đâu? Ða-vít không chỉ tạ ơn Chúa suông, nói một lời cám ơn rồi chấm dứt! Khi bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với một người chúng ta làm gí? Tất nhiên chúng ta không chỉ cám ơn suông, nhưng sẽ nhớ người ơn đó, giữ mối liên lạc với người ơn đó lâu dài, nhiều khi đến suốt đời. Ðây chính là điều vua Ða-vít đã làm đối với Chúa: thiết lập tương giao lâu bền với Ngài. Khi ý thức rằng Ðức Chúa Trời đã tạo dựng nên mình "cách đáng sợ lạ lùng" như thế, Ða-vít trung thành tôn thờ Chúa suốt đời. Nhưng không phải tất cả mọi người đều làm như vua Ða-vít.

Con người hôm nay đang đối xử như thế nào với Ðấng Tạo Hóa? Xin hãy nghĩ đến hình ảnh này. Trong số quí vị đang là các bậc làm cha mẹ, tất nhiên không ai muốn con cái bỏ bê việc nhà, bỏ bê cha mẹ là các bậc sinh thành để đi phụng dưỡng những người xa lạ. Nhưng đó lại chính là cách nhiều người đã đối xử với Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hoá! Thay vì biết ơn, tôn kính và phụng thờ Ngài, con người lại đi thờ cúng hình tượng vô tri bằng gỗ, bằng đá, hoặc thờ phụng con người, dù có thể đã được tôn tặng là thánh nhân đi nữa, nhưng cũng vẫn chỉ là tạo vật. Nhiều người tôn thờ tiền tài, danh vọng, sự nghiệp mà gạt bỏ Ðức Chúa Trời cùng mọi ý niệm về Ngài ra khỏi mọi suy nghĩ cũng như ra khỏi cuộc đời mình, sống không cần biết Ðức Chúa Trời là ai, làm như tựï mình xuất hiện trên cõi đời này! Ðây không phải là cách một người có lòng biết ơn đúng nghĩa bày tỏ với Ðấng Tạo Hoá. Tinh thần tạ ơn Ðức Chúa Trời đúng nghĩa luôn luôn đưa con người buớc vào mối tương giao sâu đậm với Ngài như kinh nghiệm của vua Ða-vít thấy rằng trong mối tương giao đó, ông trở thành tiêu điểm của tính thương toàn hảo của Ðức Chúa Trời. Khi Chúa Giê-xu là Thượng Ðế trong thân xác con người bước vào thế giới trong một biến cố xa xưa được gọi là Lễ Giáng Sinh đầu tiên thì con người có thể bày tỏ lòng biết ơn Ðức Chúa Trời một cách trực tiếp hơn, không phải bằng tình cảm khiếm khuyết và giới hạn, nhưng bằng đức tin như lời chỉ dẫn trong câu Kinh Thánh quan trọng sau đây: "Vì Ðức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư vong mà được sự sống vĩnh hằng." Tin rằng Chúa Giê-xu là Ðức Chúa Trời mang thân xác con người, chịu chết trên cây thập hình như một sinh tế chuộc tội cho mình là đáp lại tình thương vô hạn của Ðức Chúa Trời. Ðây chính là cách bày tỏ lòng biết ơn Chúa đúng nghĩa nhất. Tuy nhiên mọi việc không chấm dứt tại đây mà thật ra mới chỉ là khởi đầu của một cuộc phiêu lưu mới đầy hứng khởi trong cuộc đời được tương giao với Ðấng đã tạo dựng nên mình. Chúng ta sẽ có thái độ tạ ơn nào đối với Ðức Chúa Trời ?

Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh 

 

Thông Công 154

Please use these Unicode Fonts | Arial | Times New Roman | Verdana | Courier New | Unicode Font |
                               Copyright © 1999-2001 Vietnamese District of the C&MA  (VNDCMA · Vndistrict.org)