![]() |
Tạp Chí Dưỡng Linh và Truyền Giảng |
| Giáo
Hạt |
|
Phụ Nữ trong KINH THÁNHGiê-sa-bên Qua mục Phụ Nữ trong Kinh Thánh kỳ trước, chúng ta đã biết qua lai lịch của Giê-sa-bên, vợ A-háp, vua nước Y-sơ-ra-ên. Giê-sa-bên là người đàn bà có nhiều tính xấu hơn tính tốt, nhưng điều khiến bà nguy hiểm cho con dân Chúa ngày xưa là, bà là người sùng bái tà thần Ba-anh và chống nghịch Ðức Chúa Trời. Lòng cuồng tín đối với thần Ba-anh đã khiến Giê-sa-bên sẵn sàng làm tất cả những gì bà có thể làm để tiêu diệt đạo Chúa và con dân Ngài. Ba đặc điểm của bà Giê-sa-bên chúng tôi đã nói đến trong bài kỳ trước là: 1. Giê-sa-bên là người sùng bái tà thần, chống nghịch Ðức Chúa Trời 2. Giê-sa-bên là người có nhiều tham vọng 3. Giê-sa-bên không tôn trọng người hầu việc Chúa. Trong bài kỳ này chúng ta sẽ cùng nhìn vào những đặc điểm khác của bà Giê-sa-bên Giê-sa-bên là người vợ điều khiển chồng và lấn quyền chồng Ðặc điểm thứ tư của Giê-sa-bên là, bà là người đàn bà hung dữ và cứng cỏi, không vâng phục chồng nhưng lấn quyền chồng và điều khiển tất cả mọi việc trong gia đình cũng như trong nước. Vì vua A-háp là một người đàn ông nhu nhược, hèn yếu, ích kỷ và ấu trĩ nên bà vợ ông đã lợi dụng cơ hội, điều khiển chồng và nắm quyền trong cả Y-sơ-ra-ên. Thật ra A-háp chỉ là ông vua bù nhìn và người chồng nhu nhược, vợ xui gì làm nấy, không hề biết phân biệt phải trái. Nếu bà Giê-sa-bên là người kính sợ Chúa và thật lòng muốn giúp chồng, với khôn ngoan và tài trí của bà, bà có thể giúp A-háp cai trị con dân Chúa một cách tốt đẹp. Nhưng điều đáng tiếc là bà không kính sợ Chúa nhưng thờ tà thần và có nhiều tham vọng. Bà đã dựa vào quyền thế của chồng, lợi dụng địa vị hoàng hậu để đạt những tham vọng ích kỷ, xấu xa. Có người đã gọi Giê-sa-bên là một thiên tài của tội lỗi và gian ác. Bà chỉ là vợ vua nhưng bà đã trở thành người nắm quyền, cách độc tài và tàn ác, trong khi đó chồng bà chỉ có danh chứ không còn quyền gì cả. Bà Giê-sa-bên lấn quyền chồng không những vì vua A-háp quá nhu nhược nhưng cũng vì ông rất là ấu trĩ. Bà xem chồng chẳng khác gì một đứa bé, bảo gì làm nấy. Thật ra vua A-háp không phải là người tàn ác, khuyết điểm của ông là ham lạc thú và yếu hèn, sống cho mình chứ không biết nghĩ đến dân, nhưng dưới sự điều khiển của bà Giê-sa-bên, triều đại của A-háp đã trở thành triều đại tội lỗi và tàn ác nhất trong lịch sử Do Thái. Theo lời Chúa dạy, trong gia đình, người đàn bà được kể là phái yếu, cần sự chăm sóc, bảo vệ và hướng dẫn của chồng. Sứ đồ Phi-e-rơ viết: "Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn" (I Phi-e-rơ 3:7a). Nhưng trong gia đình A-háp và Giê-sa-bên thì ngược lại, A-háp là chồng nhưng lại yếu đuối, nhu nhược, cần được vợ an ủi, chăm sóc và hướng dẫn; trong khi đó bà Giê-sa-bên là vợ nhưng cứng rắn, không vâng phục chồng và xem thường chồng. Bà đã dùng tính cứng rắn, tàn ác và sức thu hút của bà để sai khiến chồng làm theo ý bà. Chúng ta hãy cùng đọc câu chuyện sau đây, được ghi lại trong sách I Các Vua chương 21, để thấy rõ hình ảnh một người đàn bà không có lòng nhân, dựa vào quyền thế của người chồng nhu nhược để tàn hại người lành. Thánh Kinh ghi: "Sau các việc ấy xảy có chuyện này: Na-bốt, người Gít-rê-ên, có một vườn nho tại trong đồng bằng Gít-rê-ên, giáp với cung điện của A-háp, vua Sa-ma-ri. A-háp nói cùng Na-bốt rằng: Hãy nhường vườn nho của ngươi cho ta, để ta dùng làm vườn rau, vì nó ở gần bên cung điện ta. Ta sẽ đổi cho ngươi một vườn nho tốt hơn, hay là nếu ngươi thích, ta sẽ cho ngươi tiền bạc. Nhưng Na-bốt thưa lại với A-háp: Nguyện Ðức Giê-hô-va giữ lấy tôi, chớ để tôi nhường cho vua cơ nghiệp của tổ phụ tôi!" (I Các Vua 21:1-3) A-háp trở về đền, buồn và giận vì cớ lời Na-bốt đã nói: Tôi không nhường cho vua cơ nghiệp của tổ tiên tôi. A-háp nằm trên giường, xây mặt đi, không chịu ăn. Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần người mà nói rằng: Bởi sao vua có lòng buồn rầu và không chịu ăn? Người đáp: Vì ta có nói chuyện với Na-bốt rằng: hãy nhường vườn nho ngươi cho ta mà lấy tiền, hay là nếu ngươi thích, ta sẽ đổi cho ngươi một vườn nho khác, song người đáp lại rằng: Tôi không nhường cho vua vườn nho của tôi. Hoàng hậu Giê-sa-bên bèn nói: Có phải ông là vua cầm quyền trên Y-sơ-ra-ên không? Thôi, dậy, ăn uống và vui vẻ đi! Tôi sẽ ban cho ông vườn nho của Na-bốt. Giê-sa-bên liền viết thư nhân danh A-háp, đóng ấn của vua, gởi cho các trưởng lão và những người quý tộc sống trong cùng thành với Na-bốt. Trong thư nói như vầy: Hãy truyền rao lễ kiêng ăn rồi đặt Na-bốt ở đầu dân sự; đoạn hãy để trước mặt người hai kẻ gian phạm làm chứng cho người, mà rằng: Ngươi đã rủa sả Ðức Chúa Trời và vua, sau đó hãy dẫn người ra khỏi thành ném đá cho chết đi. Những người của thành Na-bốt, tức là các trưởng lão và người quý tộc đều làm theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thơ mà người đã gởi. Họ rao truyền lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở đầu dân sự. Bấy giờ hai tên gian phạm đến ngồi trước mặt Na-bốt và cáo gian người tại trước mặt cả dân sự, mà rằng Na-bốt có rủa sả Ðức Chúa Trời và vua, đoạn họ dẫn người ra khỏi thành, ném đá người chết. Khi Giê-sa-bên hay rằng Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi, bèn nói cùng A-háp: Hãy dậy nhận lấy vườn nho mà Na-bốt người Gít-rê-ên đã từ chối không chịu nhường cho ông để lấy bạc, vì Na-bốt không còn sống nữa, đã chết rồi. Nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đứng dậy, đi xuống vườn nho của Na-bốt đặng lấy làm của mình (I Các vua 21:1-16). Qua câu chuyện trên chúng ta nhìn thấy thêm những đặc điểm sau đây của bà Giê-sa-bên: (1) Bà Giê-sa-bên khinh thường chồng nhưng dựa vào uy quyền của chồng để làm điều ác Vua A-háp thích vườn nho của Na-bốt nhưng ông yêu cầu hay thương lượng gì Na-bốt cũng không chịu nhường cho ông. Lời đề nghị của A-háp khá hợp lý và công bằng: ông sẽ đổi cho Na-bốt một vườn nho khác hoặc là ông sẽ mua và trả tiền đàng hoàng. Tuy nhiên, vì đây là tài sản của ông cha để lại, Na-bốt không thể bán hay nhường cho người khác, dù người đó là vua. Người Do Thái cũng như người Việt chúng ta, miếng đất hương hỏa của ông cha để lại rất là giá trị, không thể đem bán cho người khác. Lời từ chối của Na-bốt hợp lý và chính đáng, nhưng ông vua ấu trĩ A-háp không thể chấp nhận. Ông vốn quen muốn gì được nấy, bây giờ điều ông muốn bị từ chối nên ông phản ứng như một đứa trẻ, nằm vạ và bỏ ăn. Bà Giê-sa-bên, vợ vua A-háp vốn biết tính chồng như trẻ con nên khi thấy ông buồn rầu, nằm trên giường quay mặt vào vách, không chịu ra bàn ăn bà biết ngay là có điều gì không vừa ý ông. Bà hỏi: Tại sao nhà vua buồn rầu và không chịu ăn? Vua A-háp kể cho vợ nghe mọi chuyện. Nếu là người vợ khôn ngoan, bà Giê-sa-bên phải khuyên chồng rằng ông là vua, giàu có, ông đã có bao nhiêu tài sản, đất ruộng, vàng bạc, châu báu. Anh Na-bốt nghèo kia chỉ có một vườn nho của tổ tiên để lại, ông mua làm gì, có giá trị gì đâu. Còn bao nhiêu vườn nho khác trong nước ông có thể mua, thôi buồn làm gì, v.v... Ðáng lẽ bà Giê-sa-bên phải khuyên chồng và giúp chồng xử sự phải lẽ, đúng tư cách một vị vua, nhưng trái lại, bà đã trả lời chồng một cách quỷ quyệt. Bà vừa nói khích chồng, vừa vỗ về hứa hẹn với ông như hứa với con, đồng thời, bày tỏ tấm lòng gian ác và mưu mô thâm độc của mình. Bà nói: "Có phải ông là vua trong Y-sơ-ra-ên không? Thôi, đừng buồn nữa, dậy ăn uống, vui vẻ đi, tôi sẽ cho ông cái vườn nho của Na-bốt." Bà Giê-sa-bên chỉ vỗ về, an ủi chồng một câu như thế rồi tự ý thi hành mưu mô độc ác của mình. Bà không những xem thường chồng nhưng cũng xem thường vị vua của Y-sơ-ra-ên. Bà có ý cho rằng A-háp là vua mà không biết sử dụng quyền làm vua gì cả. Ðối với bà, việc muốn chiếm vườn nho của một người dân quá dễ dàng, vì thế bà bảo A-háp đừng buồn nữa, dậy ăn uống, vui vẻ đi, để chuyện đó bà lo cho. Bà Giê-sa-bên khinh thường chồng đến độ bà mưu tính một chuyện lớn lao và tàn ác như vậy mà bà không cần hỏi ý chồng, cũng không cho ông biết. Chồng của bà Giê-sa-bên là vua của một nước, nhưng bà không tôn trọng thẩm quyền của ông chút nào. Giê-sa-bên lập mưu vu cáo cho Na-bốt tội xúc phạm đến Ðức Chúa Trời và vua Israel để Na-bốt bị giết rồi bà lấy vườn nho của Na-bốt giao cho chồng. Chúng ta không rõ âm mưu của Giê-sa-bên bao lâu mới thành tựu nhưng có lẽ cũng phải một thời gian khá lâu. Vì phải có người đem chiếu chỉ của vua đến cho các trưởng lão và người quý tộc trong thành. Sau đó rao lễ kiêng ăn, rồi mới đem Na-bốt ra, nhờ hai tên gian phạm vu cáo và tuyên bố xử tử Na-bốt bằng cách ném đá. Trong suốt thời gian này có lẽ vua A-háp tiếp tục nằm vạ, không ăn và nằm luôn chứ không dậy. Vì Thánh Kinh ghi rằng, khi có người báo tin cho bà Giê-sa-bên là Na-bốt đã chết, bà liền đến nói với vua A-háp: "Hãy chỗi dậy, nhận lấy vườn nho mà Na-bốt người Gít-rê-ên đã từ chối không chịu nhường cho ông để lấy bạc, vì Na-bốt không còn sống nữa, đã chết rồi." A-háp thật là một người tham lam, ích kỷ và trẻ con. Nghe tin Na-bốt chết, ông liền đứng dậy, đi xuống vườn nho của Na-bốt đặng lấy làm của mình. A-háp cũng chẳng hỏi là tại sao Na-bốt chết, ai đã làm gì mà Na-bốt chết? A-háp dư biết tính thâm độc và tàn ác của vợ, nhưng ông chẳng quan tâm đến hành động của bà, ông chỉ biết ông được điều ông muốn là đủ. Một người đàn ông như thế thật cũng đáng khinh. (2) Bà Giê-sa-bên là người tàn ác, hiểm độc nhưng rất khôn ngoan Trong vụ thảm sát Na-bốt, bà Giê-sa-bên đã qua mặt chồng, mượn uy quyền của chồng để mưu ác của bà được thành. Bà biết rõ khuyết điểm của chồng là nhu nhược, ích kỷ và không trưởng thành, vì thế bà đã không ngại làm những điều bất công và tàn ác để cho chồng được điều ông muốn. Giê-sa-bên rất là khôn ngoan và quỷ quyệt, bà biết rằng khi A-háp vui và thỏa mãn vì được điều mình muốn, bà có thể tiếp tục dựa vào uy quyền của ông để thực hiện những âm mưu tàn ác khác. Bà Giê-sa-bên là người đàn bà không có trái tim, không có lòng nhân. Ðối với bà, mạng sống con người không có một giá trị nào cả. Tính thích giết người hầu như nằm trong huyết quản của bà. Cha của Giê-sa-bên, ông Ết-ba-anh, đã giết vị vua trước ông để chiếm ngôi. Ðược trưởng dưỡng trong một gia đình tàn ác như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy bà Giê-sa-bên là người đàn bà giết người không gớm tay. Ai bất đồng ý kiến với bà hay làm điều ngược với ý bà là bà thanh toán ngay. Khi tiên tri Ê-li chiến thắng thần Ba-anh và các tiên tri Ba-anh bị giết, Giê-sa-bên thề sẽ giết người của Ðức Chúa Trời bằng lời hăm dọa thật nặng nề. Bà nói: "Nếu ngày mai trong giờ nầy, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một người trong chúng nó, nguyện các thần đãi ta cách nặng nề" (I Các Vua 19:2). Và vì lời hăm dọa đó mà tiên tri Ê-li mất tinh thần, chạy trốn và cầu xin Chúa cất mạng sống ông đi. Bà Giê-sa-bên là người hiểm độc, tàn ác nhưng cũng vô cùng khôn ngoan. Trong âm mưu giết Na-bốt, bà biết rằng chỉ có thư của vua gởi ra, có đóng ấn của nhà vua mới có giá trị, dân chúng mới làm theo. Vì thế bà đã tự ý viết thư nhưng nhân danh vua và lấy con ấn của vua đóng vào, làm như đó là thư của chính vua A-háp viết, có nghĩa là đó là lệnh vua truyền, người nhận được phải tuyệt đối thi hành. Ðiều khôn ngoan thứ hai là, bà biết rằng trong Y-sơ-ra-ên mỗi khi có vấn đề gì nghiêm trọng thì phải rao truyền lễ kiêng ăn rồi mới hội họp dân chúng. Không những thế, bà biết theo luật Môi-se, tội xúc phạm đến Ðức Chúa Trời và xúc phạm đến vua là tội đáng chết. Vì thế bà đã vu cho anh nông dân nghèo cô thế tội đó. Ngoài ra, bà Giê-sa-bên còn biết rằng theo luật Môi-se, lời tố cáo của một người không có giá trị, mà phải có hai hay ba người làm chứng mới có giá trị, vì thế bà ta dặn chọn hai người đứng ra làm chứng về việc Na-bốt nói phạm đến danh Chúa và vua. Cuối cùng, bà biết rằng, chỉ những người gian hùng, xấu xa mới bằng lòng làm chứng gian để hại người lành, vì thế trong thư bà ta dặn chọn hai tên gian phạm ra làm chứng gian để vu khống cho Na-bốt. Giê-sa-bên có thể ra lệnh bỏ tù hay giết Na-bốt để cướp vườn nho cho chồng, nhưng vốn tính khôn ngoan và quỷ quyệt, bà đã sắp đặt để Na-bốt bị giết và chồng bà đạt được điều ông muốn mà không ai có thể nói rằng bà đã giết người vô tội. Bà Giê-sa-bên dựa vào luật pháp Môi-se và mượn tay người dân cùng làng với Na-bốt, vu cáo cho Na-bốt và giết ông để cái chết của Na-bốt là điều hợp lẽ, đúng luật, không ai có thể nghi ngờ hay đổ tội cho bà. Một người đàn bà có thể mưu tính và sắp đặt chuyện giết người cách tinh vi như thế thật là đáng sợ. Sau khi Na-bốt chết và A-háp đã chiếm vườn nho, Ðức Chúa Trời sai tiên tri Ê-li đến cùng A-háp và tuyên bố những lời sau: "Ðức Giê-hô-va phán như vầy: ngươi há đã giết người và bây giờ chiếm lấy cơ nghiệp của nó sao?... Ở tại chỗ mà chó đã liếm máu của Na-bốt, thì chó cũng sẽ liếm chính máu của ngươi" (I Các Vua 21:19). Như chúng ta đã thấy, A-háp tuy nhu nhược nhưng không tàn ác như bà vợ ông. Hơn nữa, ông còn có chút lòng kính sợ Chúa. Khi nghe lời tiên tri Ê-li nói, A-háp bèn ăn năn tội. Thánh Kinh ghi rằng "A-háp xé quần áo mình, lấy bao mặc và nhịn đói, nằm vấn bao và ở khiêm nhượng" (I Các Vua 21:27). Vì thế Ðức Chúa Trời phán cùng Ê-li: "Ngươi có thấy thế nào A-háp hạ mình xuống trước mặt ta chăng? Bởi vì người hạ mình xuống trước mặt ta, ta không giáng họa trong đời nó, nhưng trong đời con trai nó ta sẽ giáng họa trên nhà nó" (I Các Vua 21:29). Không bao lâu sau, lời tiên tri về cái chết của A-háp đã thành sự thật.Bà Giê-sa-bên không những không kính sợ Ðức Chúa Trời của chồng nhưng bà cũng xem thường chồng và lấn quyền chồng. Bà Giê-sa-bên là người tàn ác, nhiều mưu mô, hại người lành, giết người không gớm tay. Một nhà giải nghĩa Kinh Thánh gọi bà là "cái cây độc dữ nên sinh ra những cây trái độc dữ." Trong bài kỳ tới chúng ta sẽ nhìn vào con cháu của Giê-sa-bên để xem những trái độc dữ mà bà đã sinh ra. Minh Nguyên |
Thông Công 154
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|