HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM
Ðạo Tin Lành được Hội Truyền
Giáo Phước Âm Liên Hiệp (The Christian and Missionary
Alliance) khởi xướng, truyền vào Việt Nam từ năm 1893 nhưng
mãi đến đầu thế kỷ thứ 20 công cuộc truyền giáo mới bắt đầu
đem lại kết quả. Mùa Xuân năm 1911, Giáo sĩ R. A Jaffray mở
một kỷ nguyên mới cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam.
Ông cùng hai giáo sĩ Paul M. Hosler và G. Lloyd Hugher đến
hải cảng Tourane (Ðà Nẵng) Trung Phần Việt Nam. Họ được ông
Bonnet, thuộc Thánh Kinh Hội Anh Quốc nhường lại cơ sở góc
đường Khải Ðịnh và Nguyễn Hoàng để làm trụ sở Truyền Giáo.
Ðây là cơ sở đầu tiên của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên
Hiệp tại Việt Nam. Ðến năm 1914 có 9 giáo sĩ đến hầu
việc Chúa tại Việt Nam (1 Anh, 2 Na-uy, 4 Canada và 2 Mỹ).
Nhờ nỗ lực truyền giáo của các giáo sĩ, tín đồ Tin lành
được mỗi ngày một thêm lên.
Nhận thấy cần phải thống nhất các hoạt động của Hội Thánh,
năm 1924, Hội Ðồng đầu tiên của Hội Thánh được tổ chức, lần
thứ nhì năm 1925 và lần thứ ba năm 1926. Cả ba lần đều nhóm
tại Ðà Nẵng. Hội Ðồng Tổng Liên Hội ngày 26/6/1928 đã thông
qua bản Ðiều Lệ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Cũng trong năm
này Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã trình bản Ðiều Lệ cho
nhà cầm quyền để xin được công nhận, nhưng mãi đến ngày
19/1/1942 nhà Toàn Quyền Decoux mới ký văn thư công nhận.
Trong khoảng thời gian này, tại Hà-Nội, Hội Truyền Giáo
hiệp với Thánh Kinh Hội lập một ban phiên dịch Kinh Thánh,
có nhà văn Phan Khôi cộng tác với Giáo sĩ Cadman. Một ban
khác phiên dịch Thánh Ca Anh, Pháp ra tiếng Việt, mặc dầu
chưa có dấu nhạc. Tại Hải Phòng nhóm tín đồ người Hoa hiệp
tác với một ít tín hữu người Việt thành lập Hội nhánh Hải
Dương. Tại Ðà Nẵng, nhà nguyện đầu tiên được dựng lên năm
1913. Cụ Mục Sư Hoàng Trọng Thừa tin Chúa năm 1915 khởi
công gây dựng công việc Chúa với các Giáo sĩ và vài năm sau
có đến hàng ngàn người tin Chúa ở khắp các vùng chung quanh
Ðà Nẵng.
Năm 1917-1918, có thêm 6 Giáo sĩ được phái đến miền Nam để
mở rộng tầm hoạt động ở Nam kỳ. Ðạo Chúa phát triển trước
hết tại Mỹ Tho, rồi lan sang Tân Thạch, Cao Lãnh, Cần Thơ,
Châu Ðốc, rồi xuống dần tận Cà Mau. Về sau tại Sàigòn chi
hội đầu tiên được thành lập, ngày nay là chi hội Tin Lành
Trần Hưng Ðạo.
Năm 1918 Lớp Kinh Thánh đầu tiên được bắt đầu tại nhà xe
phía sau nhà thờ Ðà Nẵng. Năm 1921 Trường Kinh Thánh Ðà
Nẵng được chính thức thành lập và Giáo Sĩ Jeffrey làm Ðốc
Học.
Năm 1926, Kinh Thánh toàn bộ đã được xuất bản mà đến nay
vẫn còn đang được sử dụng.
Ðến năm 1928 trường Kinh Thánh Ðà Nẵng đã có cơ sở đủ cho
90 học viên cư trú. Ban Giảng huấn gồm có bốn Giáo sĩ và ba
Giáo sư Việt Nam. Ðợt học viên tốt nghiệp đầu tiên vào năm
1927. Năm này cũng là năm Ðại Hội Ðồng Tổng Liên được triệu
tập tại Ðà Nẵng và Giáo Hội Tin Lành Việt Nam được thành
lập dựa trên ba nguyên tắc là tự lập, tự trị và tự dưỡng.
Sau 16 năm, Giáo Hội Tin Lành Việt Nam có khoảng 5,000 tín
hữu trên 3 vùng Bắc, Trung và Nam kỳ.
Ban Trị Sự Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam do Mục
Sư Hội Trưởng và bốn thành viên Chủ nhiệm ba Ðịa Hạt Bắc,
Trung, Nam. Mỗi Ðịa Hạt có Ban Trị Sự Ðịa Hạt gồm Mục sư
Chủ Nhiệm và bốn thành viên phụ trách. Ðơn vị là Chi Hội do
Ban Tri Sự Chi Hội gồm Mục Sư hay Truyền Ðạo Chủ Tọa và bốn
thành viên cùng các chấp sự chăm sóc.
Năm 1928, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp thành lập
Trung Tâm Huấn Luyện tại Ðà-lạt dành cho các con của các
nhà truyền giáo làm việc tại Ðông Dương, Thái Lan, Nam
Dương và Hồng Kông.
Năm 1930 Hội Truyền giáo lập nhà in tại Hà Nội để in Kinh
Thánh, các sách giải nghĩa Kinh Thánh, Thánh Ca, bài học
Trường Chúa Nhật và truyền đạo đơn.
Năm 1931, tại Cần Thơ một chiếc tàu mang tên Tin Lành do
Mục Sư Huỳnh văn Ngà cùng ban chứng đạo gồm hai, ba người
đi các vùng sông rạch của tỉnh Kiên Giang, Minh Hải và một
phần tỉnh Hậu Giang giảng Tin Lành. Vì chiến tranh nên tàu
Tin Lành không hoạt động được nữa. Vào năm 1958 một tàu Tin
Lành khác được lập tại Vĩnh Long nhưng không có người điều
khiển nên chỉ hoạt động một thời gian ngắn.
Năm 1933, tại Cần Thơ có một tín đồ dâng một xe hơi củ làm
phương tiện truyền giảng trên bộ. Về sau có xe truyền giảng
Tin Lành tại Ðà nẵng, Nha Trang và Sài-gòn.
Năm 1935 Hội Thánh Tin Lành Việt Nam có 35 Mục sư, 85
Truyền Ðạo và thầy giảng tại 63 chi hội. Sau sắc lệnh ký
ngày 5/12/1929 tại Huế, Ðạo Tin Lành được truyền giảng tại
những vùng bị cấm như Huế, Qui Nhơn, Thanh Hóa, Nam Ðịnh.
Ðồng thời với sự phát triển ở vùng Kinh, từ năm 1932 Ðạo
Chúa được truyền bá tại những vùng thượng du như Lạng Sơn,
Hòa Bình, Ðà-lạt, Di Linh, Ban Mê Thuột, Khe Sanh, An Ðiềm,
Pleiku, Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Quảng Ðức, Ðà-lạt rồi đến
Phước Long, Bình Long. Năm 1950 vùng Nam Trường sơn và Tây
Cao Nguyên Trung Phần đứng thành địa hạt riêng, Thượng Hạt
với Ban Trị Sự riêng hoạt động cùng với Ban Truyền Giáo sắc
tộc người Kinh. Theo tiêu chuẩn phân chia của các nhà dân
tộc học, nước Việt Nam có khoảng 54 dân tộc. Trong đó vùng
Nam Trường Sơn và Tây Nguyên có 24 dân tộc và có đến 20 sắc
dân thiểu số được trực tiếp truyền bá Tin Lành.
Năm 1938 theo khai trình, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam có
9,642 tín-đồ chánh thức, 975 chờ chịu lễ báp têm.
Vì cuộc thế chiến, nhà in Tin Lành tại Hà Nội đã phải bán
đi năm 1943. Sau đó được tái lập tại Ðà-lạt, rồi dời xuống
Sài gòn tại đường Cô Bắc và cuối cùng là vào năm 1970 tại
30 Huỳnh Quang Tiên nay là Hồ Hảo Hớn.
Sau Thế Chiến thứ II, 1939-1945 ngày 20/7/1954 nước Việt
Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Hội Thánh miền Bắc ở trong
chừng mực nhất định. Hội Thánh Miền Nam hoạt động tự do và
phát triển.
Năm 1959, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã cổ động ân nhân
trong và ngoài nước giúp đỡ xây Thánh Kinh Thần Học Viện
tại Nha Trang có đủ tiện nghi cho 200 học sinh và sinh viên
nội trú.
Năm 1967, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã phát động phong
trào Truyền Ðạo Sâu Rộng. Một ủy ban được thành lập để đôn
đốc và hướng dẫn Hội Thánh theo khẩu hiệu "Tất cả cho người
chưa được cứu"
Năm 1968 theo thống kê, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam ở nam
vĩ tuyến 17 có 334 chi hội, 131 Mục Sư , 151 Truyền Ðạo, 68
Truyền Ðạo Sinh, chăm sóc khoảng 50,000 tín đồ chính thức,
250,000 chưa chính thức. Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp
có 96 Giáo sĩ cộng tác và yểm trợ.
Các cơ sở chính của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trước năm
1975 gồm có Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang, hai trường
Kinh Thánh sắc tộc ở Ðà-lạt và Ban Mê Thuột, Trường Ðà-lạt
cho các con Giáo sĩ khu vực Ðông Nam Á, Cô Nhi Viện Hòn
chồng Nha Trang, Cô Nhi Viện Phú Thọ Hòa, bệnh viện phung
Eana Ban Mê Thuột, các trạm y tế từ thiện, nhà in Tin Lành
Sài-gòn, các trường Trung Tiểu học Tin Lành, Thánh Kinh
Nguyệt San, Tạp Chí Truyền Giáo, Tạp Chí Rạng Ðông và phòng
sách Tin Lành tại An Ðông.
Hiện nay số tín hữu ở Việt Nam có khoảng 800,000 ngàn người
và theo thống kê của nhà nước có đến 2. 2 triệu. Số Mục sư,
Truyền Ðạo chính thức là 273 người, 119 người bán chính
thức, 1,500 người không chính thức hoạt động tại 282 nhà
thờ chính thức, 253 nhà nguyện bán chính thức, 1500 chỗ
nhóm lại không chính thức.
Nhìn lại quá trình của 90 năm qua, chúng ta cúi đầu dâng
lên Thiên Chúa Ba Ngôi lời ngợi khen vì đã đoái thương dân
tộc Việt Nam, đã dùng Hội Truyền Giáo The Christian and
Missionary Alliance đem Tin Lành cứu rỗi đến cho dân tộc
Việt Nam chúng ta để từ đó ánh sáng của sự sống chiếu rọi
vào đời sống của biết bao người, biến đổi họ, thánh hóa và
ban cho họ kinh nghiệm được quyền năng tái tạo một cuộc đời
mới. Từ đó, dầu cuộc thế đổi thay, chiến tranh ly tán,
người tín hữu Tin Lành vẫn giữ vững niềm tin, sống theo lời
dạy của Chúa để lúc nào cũng là "muối của đất, và ánh sáng
cho trần gian"
Năm 1975 đã đưa hàng ngàn Mục Sư và tín hữu Tin Lành ra
khỏi quê hương thân yêu tản lạc khắp nơi trên thế giới. Cảm
tạ ơn Chúa, nhờ hột giống tốt được gieo rắc trong tâm điền
tốt cho nên đã mọc lên bông trái thuộc linh khắp nơi trên
thế giới. Ðặc biệt Giáo Hạt Việt Nam tại Hoa Kỳ sau 33 năm
thành lập có 94 Hội Thánh và hơn 12 ngàn tín hữu Tin Lành.
Nhìn tương lai, các tôi con Chúa thuộc Giáo Hạt Việt Nam Hoa kỳ
luôn dâng lời tạ ơn Chúa vì thừa hưởng một di sản quý báu
từ các ông cha thuộc linh để lại. Gia tài giàu có tâm linh
đó chúng ta chẳng những biết ơn ghi nhận và nhờ ơn Chúa cố
công xây đắp để mỗi ngày một rạng rỡ hơn.
Kỷ Niệm 90 Năm Tin Lành Ðến Việt Nam


