TƯỞNG NHỚ MỘT ÐẦY TỚ TRUNG KIÊN CỦA ÐỨC CHÚA TRỜI

           Sau những ngày bận rộn của mùa lễ kỷ niệm Cứu Chúa Jêsus Giáng Sinh năm 2003 vừa qua, tôi nhận được điện thoại của cụ Bà Quả Phụ Mục Sư Lê Văn Phải mời dự lễ tưởng niệm cụ ông đã về với Chúa tròn một năm. Thời gian qua nhanh thật, tôi còn có thể hình dung khuôn mặt, vị thế ngồi, chỗ ngồi của cố Mục Sư Lê Văn Phải, khi tham dự buổi liên hoan mừng Chúa Giáng Sinh năm 2002 do Giáo Hạt tổ chức. Chỉ vài ngày sau đó, Chúa đã gọi đầy tớ Chúa về, cho nghỉ ngơi để hưởng phước nơi thiên đàng, chấm dứt cuộc đời 86 năm nơi trần gian.

          Tại căn nhà của cụ,buổi lễ đã diễn ra trong không khí gia đình nhưng rất long trọng. Mọi người được nghe lại tiểu sử của cụ, một vài người con nhắc lại những kỷ niệm khó quên của mình với người Cha thân yêu, được nghe lời Chúa do Mục Sư Nguyễn Anh Tài, nhắc nhở đến lãnh tụ Môi-se là người khiêm hòa, liên hệ đến cụ cũng là một người có đức tính khiêm hòa đó. Tôi thật sự cảm động và khâm phục đức tính chịu đựng, nhẫn nhục trung tín phục vụ Chúa của cụ.

 Mỗi người có một tiểu sử, nhưng tiểu sử của cố Mục Sư Lê Văn Phải có sức thuyết phục cao, thôi thúc những người đi sau mạnh mẽ hơn trong sự phục vụ Chúa. Từ buổi lễ ra về tôi thấy được thúc giục phổ biến tiểu sử của cụ để mọi người cùng được khích lệ. Tôi đã xin phép và được gia đình vui vẻ chấp nhận. Sau đây là nguyên văn bài tiểu sử của gia đình ghi lại mà Mục Sư Lê Phước Thiện đã đọc trong buổi lễ.

 

 Gương Cụ Mục Sư Trí Sự Lê Văn Phải

1. Ðời Sống Gia Ðình

 

Cụ Mục Sư Trí Sự Lê Văn Phải sinh ngày 07 tháng 07 năm 1907 tại Hưng Nhơn, Châu Ðốc, miền Nam Việt Nam. Năm 1935, Cụ thành lập gia đình cùng Nữ Truyền Ðạo Lê Thị Nguyệt. Cụ là người chồng yêu thương vợ, luôn chăm sóc và chiều chuộng. Cụ đi công việc gì cũng luôn đi chung với Bà. Tại Hoa Kỳ, Cụ luôn lái xe đưa Bà Cụ đi thờ phượng, đi thăm viếng tín hữu, đi chợ. Người ta không khi nào nghe Cụ to tiếng với Bà Cụ. Cụ thật là một người chồng hiền đức và đầy yêu thương.

           Ðối với các em; dầu là em ruột, em vợ, em bà con, hay em nuôi, Cụ đều rất thương yêu chăm sóc, dạy dỗ, lo xây dựng gia đình, giúp xây dựng cuộc sống và nuôi dưỡng trong tinh thần một người anh quảng đại.

           Ðối với bạn bè, nhất là người hầu việc Chúa, Cụ là một người bạn chân tình trìu mến.

           Ðối với con cháu, ngoài sự nuôi dưỡng giáo dục, Cụ cầu nguyện và khuyến khích trên đường hầu việc Chúa. Kết quả, sáu trong bảy người con và một cháu đích tôn đã bước vào chức vụ theo ơn Chúa kêu gọi.

 2. Con Ðường Chức Vụ

 Hai Cụ sống trong một tâm tình cùng hầu việc Chúa. Sau khi tốt nghiệp Trường Kinh Thánh Ðà Nẳng năm 1938, hai Cụ bắt đầu hầu việc Chúa từ Hội Thánh Bình Ðại và Lộc Thuận thuộc tỉnh Bến Tre, đến Hội Thánh Bình Long và Phú Lâm thuộc tỉnh Châu Ðốc đến Hội Thánh Long Mỹ, Ðường Mớp, Cụ mở thêm được một Hội Thánh nhánh tại Phước Long, tỉnh Rạch Giá.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước, kinh tế trong gia đình rất eo hẹp, thêm đối diện với những thử thách đau thương, nhưng Ông Bà Cụ vẫn quyết tâm hầu việc Chúa.

Sau khi Cụ đổi về Hội Thánh Kế Sách, Ông Bà Cụ lại mở thêm Hội Thánh Phú Nổ, tỉnh Sóc Trăng. Ðến năm 1948-1951, Cụ được mời về quản nhiệm Hội Thánh Bạc Liêu. Năm 1951, Cụ quản nhiệm Hội Thánh Sài Gòn. Nhờ tâm tình hiền hòa, lòng kiên nhẫn và luôn nhờ cậy Chúa qua lời cầu nguyện nên Cụ đã giúp cho Ban Chấp Hành Hội Thánh hiệp một hướng về sự hầu việc Chúa. Cố Mục Sư Nguyễn Bá Quang đã nhắc lại phương pháp phục vụ Chúa đối với con cái Chúa trong Hội Thánh như sau: “Mình nên nhường và chịu thua anh em để được anh em.” Tại Cần Thơ, Cụ mở thêm Hội Thánh Cái Răng và Bình Thủy. Sau đó Cụ trở lại Sài Gòn mở thêm Hội Thánh Khánh Hội, Hội Thánh Phạm Thế Hiển, Hội Thánh Nguyễn Tri Phương, Hội Thánh Hòa Hưng, Hội Thánh Trương Minh Giảng, Hội Thánh Thị Nghè, Hội Thánh Chánh Hưng, Hội Thánh Vũng Tàu. Cùng lúc đó, Ông Bà Cụ đã lấy đức tin kiến tạo tân kỳ cơ sở Nhà Chúa; Ông Cụ làm đề án, Bà Cụ làm đốc công để xây cất và hoàn thành cơ sở Cơ Ðốc Giáo Dục và Thánh Ðường Nhà Thờ Sài Gòn. Năm 1971, Ông Bà Cụ quản nhiệm Hội Thánh tại Biên Hòa, mở Hội Thánh Trảng Bom thuộc tỉnh Long Khánh và Hội Thánh Bến Gỗ thuộc tỉnh Biên Hòa. Trong cuộc đời hầu việc Chúa của Cụ, một trong những đặc điểm là Cụ từng ở riêng với Chúa khóc lóc kêu cầu cho từng con cái Chúa trong Hội Thánh. Ðiều mà các tín hữu thường ghi nhận ở nơi Cụ: Mỗi khi gặp Cụ, thì họ luôn thấy nụ cười trên môi và lời tâm tình khích lệ mọi người hãy hầu việc Chúa. Và thật Cụ đã hầu việc Chúa đến hơi thở cuối cùng.

Ðến năm 1987, Chúa cho phép Ông Bà Cụ được đoàn tụ với con ở Hoa Kỳ, nhưng bởi tấm lòng yêu quý chiên của người chăn bầy, Ông Bà Cụ không ở cùng con để được chăm sóc, nhưng đến California để chăm sóc Hội Thánh Chúa tại Hawthorn.

          Năm 1991, vì cao tuổi nên Ông Bà Cụ đã hưu trí nhưng tinh thần hầu việc Chúa vẫn không thay đổi. Cụ đi giảng đây đó, làm trưởng ban Lão Giới của Hội Thánh Santa Ana. Làm tài xế đưa rước các Lão Niên đi thờ phượng và sinh hoạt cho đến ngày Cụ vào nằm bệnh viện và về với Chúa.

Ngoài chức vụ quản nhiệm Hội Thánh, Cụ Mục Sư còn đảm trách các chức vụ như sau:

*       Chủ Tịch Ủy Ban Cứu Trợ và Tiếp Rước đồng bào di cư năm 1954

*        Thư Ký Ðịa Hạt 1957-1958

*        Thủ Quỹ Ðịa Hạt 1960-1961

*        Phó Giám Ðốc YMCA Việt Nam từ 1961-1971

*        Phái Viên Ðịa Hạt 1962-1964

*        Thủ Quỹ Ðịa Hạt 1965-1966

*        Ðại Biểu Hội Ðồng Tin Lành Thế Giới họp tại Hongkong và Singapore 1966

*        Nghị Viên Ðịa Hạt 1966-1967

*        Thủ Quỹ Tổng Liên Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt Năm 1965 -1987 (ngày phải rời đất nước sang định cư tại Hoa Kỳ)

           Ðặc biệt, trong những ngày cuối của cuộc đời Cụ, Cụ vẫn còn cơ hội giảng cho ban Lão Giới Hội Thánh Santa Ana; dự chương trình Giáng Sinh với Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ và ngày sau đó, Cụ lâm bệnh nặng và được đưa vào bệnh viện chiều Thứ Ba ngày 10 tháng 12 năm 2002.